fbpx

Chuyên mục: Bài viết

” Đẹp – Xấu trong nghệ thuật tạo hình” cùng họa sĩ Vũ Đình Tuấn


Quý phụ huynh và các bạn yêu nghệ thuật tạo hình thân mến!
Nhằm giúp mọi người khai mở phần nào về quan niệm thẩm mỹ trong nghệ thuật hội họa Green Art đã mời Họa sĩ Vũ Đình Tuấn Họa sĩ, GV ĐHMT Việt Nam tới Green Art trò chuyện với chủ đề ” Đẹp – Xấu trong nghệ thuật tạo hình”
– Trong buổi này nói chuyện này Họa sĩ Vũ Đình Tuấn sẽ đề cập tới những vấn đề sau: Đẹp – Xấu, Sến – Sú, Gu tồi – Gu tốt, Cái hay nhưng không đẹp, Cái đẹp nhưng không hay, Cái giá trị và không giá trị, Cái thích – Cái không thích….. Cái lỗi thời – Cái hợp mốt…. Nó đã là một xu hướng nghệ thuật hậu hiện đại! Nó có lịch sử và vị trí rõ ràng! Cái bạn thích Đó phải là một thứ thuộc về sến sẩm, sến sú, rởm đời, lố lăng, quá đà….hay bạn là người có Gu thẩm mỹ tốt….
– link đăng ký online : https://docs.google.com/…/1FAIpQLSepmIHA89LeX0…/viewform
– Thời gian 8h30 ngày 4/10/2020,
– Tại số 38 ngõ 141 Nguyễn Khang, Cầu Giấy
– Hotline – Zalo : 0947494720

“Tôi là Ai?” Triển lãm tranh của lớp họa sĩ tự do Green Art
Giấy mời dự lễ khai mạc triển lãm mỹ thuật

Tôi là ai!” – triển lãm tranh nghệ thuật về hành trình tìm lại chính mình

Triển lãm tranh nghệ thuật “Tôi là ai!” diễn ra tại Trung tâm triển lãm tác phẩm Mỹ thuật, Nhiếp ảnh – 29 Hàng Bài, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội từ 10/5 – 14/5/2020.

“Tôi là ai” là hành trình tìm lại chính mình, tìm lại ước mơ, tình yêu, sở thích bị lãng quên, bị đè nén, bị khất hoài của các thành viên lớp họa sĩ tự do tại Green Art dưới sự hướng dẫn của họa sĩ Vũ Xuân Tình.

Triển lãm là câu chuyện nỗ lực không ngừng vượt lên chính mình để được thể hiện ước mơ cầm cọ, được sáng tạo, được tái tạo chính mình..Bởi ngoài đời mỗi thành viên với những cuộc sống riêng, công việc rất khác nhau nhưng họ có cùng một đam mê là được vẽ, được là mình.

Mỗi tác phẩm trong triển lãm là cái nhìn tham chiếu của mỗi người về chính bản thân là nơi tâm hồn bay bổng, nơi trút nỗi buồn, hay nội tâm giằng xé, một khoảnh khắc đẹp của bốn mùa và thậm trí là vấn một vấn đề xã hội mình quan tâm qua tranh đã được hiện ra. Hội họa với mỗi thành viên đã trở thành miền đất hứa cho họ kể câu chuyện cuộc sống, tình yêu hay nội tâm thầm kín.

“Tôi là ai” lần này với hơn 40 tác phẩm trên các chất liệu sơn dầu, màu nước, khắc gỗ chúng là những đứa con tinh thần đầu tiên trên hành trình tìm lại chính mình của những thành viên lớp họa sĩ tự do đem ra giới thiệu với công chúng, bạn bè và người thân.

Một số tác phẩm tại Triển lãm tranh nghệ thuật “Tôi là ai!”:

Màu nước là gì?

Màu nước là gì?
Màu nước làm từ hạt sắc tố (pigment) nghiền mịn và chất kết dính gồm nước tinh chế và gôm Arabic. Gôm Arabic triết xuất từ 2 loài cây keo, nên còn gọi là gôm keo. Gôm Arabic kết dính hạt sắc tố với nền khi nước bốc hơi hết trong quá trình khô. Gôm arabic làm chậm chuyển động của màu khi wash, nhiều họa sĩ cho thêm gôm Arabic để dễ kiểm soát màu. Tính chất của màu nước phụ thuộc vào tính chất của hạt sắc tố và chất kết dính được dùng.Hạt sắc tố ultramarine tự nhiêngôm arabicBa đặc tính chính của màu nước:Độ trong/đụcVì màu nước thường vẽ ở trạng thái hòa tan, nên hiếm khi thấy màu nào đục hoàn toàn. Tuy nhiên, tất cả các pigment đều có độ trong/đục nhất định.Độ trong, đục chia làm 4 cấp độ:trong (transparent): Tbán trong (semi-transparent): STbán đục (semi-opaque): SOđục (opaque): OMàu trong: cho ánh sáng đi qua, cho phép màu giấy trắng hoặc phần underpainting bên dưới hiện ra. Có thể láng màu trong lên lớp màu khô bên dưới tạo hòa sắc đẹp.Màu đục: không cho ánh sáng đi qua, che phần màu bên dưới. Màu đục trông như lớp phấn khi khô. Tất cả màu cát-mi (cadmium) đều đục.Kiểm tra độ trong/đục. Vẽ 1 đường đen bằng bút marker lên giấy. Tô màu nước cắt ngang màu marker. Bên trái cadmium lemon đục, che một phần màu marker. Quinacridone gold bên phải màu trong nên nhìn rõ màu đen bên dưới.Không nên đánh đồng độ trong, đục với chất lượng màu và cho rằng màu trong tốt còn màu đục không tốt. Đục khi đó mang nghĩa không tinh khiết, bẩn. Màu trong, đục được sản xuất để tạo các hiệu quả thẩm mĩ khác nhau.Hãm màu (Staining)Hãm màu (staining) ký hiệu St, màu khó xóa hoặc không tẩy, rửa được sau khi vẽ.Không hãm màu (non-staining): hạt màu nằm lại trên mặt giấy, không lọt xuống sợi giấy nên khi khô, có thể làm ướt lại rồi lift đi.Các hạt sắc tố hiện đại và một số hạt sắc tố truyền thống cường độ mạnh như Prussian Blue (Lam Phổ) và Alizarin Crimson (hồng sẫm) có xu hướng hãm màu mạnh hơn những sắc tố truyền thống khác, vốn tẩy đi khá dễ dàng.Kiểm tra độ hãm màu. Vẽ màu lên giấy, để khô. Dùng bút lông ướt chùi màu. Winsor violet hãm màu, chùi còn 1 phần màu trên giấy. Green gold (bên phải) không hãm màu, có thể chùi gần hết màu để lộ ra giấy trắng.Kết hạt (Granulating)Granulating (Granulation) liên quan tới việc hạt sắc tố có xu hướng hình thành các chấm đậm màu – màu khô tạo bề mặt có hạt, do pigment nặng không thể nghiền mịn thành kích cỡ đồng nhất như những hạt khác.Ultramarine blue kết hạt. Quinacridone gold có hạt sắc tố nhỏ và trải đều trên mặt giấy, không kết hạt.Quy tắc chung là các hạt sắc tố truyền thống như màu đất, cô-ban và xanh viễn dương kết hạt, thì các hạt sắc tố hiện đại lại không. Kết hạt là đặc tính thú vị có nhiều họa sĩ ưa thích nên các hãng họa phẩm sản xuất dung dịch tăng khả năng kết hạt. Ví dụ dung dịch Granulation Medium của Winsor and Newton.Bất biến là gì? (Permanence)Một số màu không được xếp vào loại chịu sáng (lightfastness) – nghĩa là màu sẽ bạc nhanh nếu liên tục tiếp xúc với ánh sáng mặt trời.Vì không phải tất cả tranh màu nước đều đóng khung rồi treo lên tường nên có màu tuyệt đẹp mà độ chịu sáng kém vẫn được dùng. Ví dụ Opera Rose – một màu hồng sinh động mà họa sĩ vẽ thực vật yêu thích. Phần lớn họa sĩ thực vật cất tranh trong portfolios hoặc trong sách nên việc hạt sắc tố chịu sáng tốt hay không không đặc biệt quan trọng. Winsor & Newton và Sennelier vẫn sản xuất Opera Rose trong phổ màu.Màu Opera rose của Winsor and Newton, độ bất biến hạng B (kém).Nếu độ chịu sáng là đặc tính quan trọng với bạn và tác phẩm của bạn, hãy tham khảo colour chart (phổ màu) của hãng sản xuất để đảm bảo màu bạn mua không bạc nhanh chóng.Màu đơn sắc tố (single pigment) có gì tốt?Hạt sắc tố đơn sắc khi pha trộn tạo ra màu sáng và sinh động. Việc kết hợp quá nhiều hạt sắc tố cho màu trung gian “hue” xỉn và đục như bùn.Một số màu chỉ có thể sản xuất từ việc kết hợp 2 hoặc nhiều hạt sắc tố – như Quinacridone Gold (vàng Quinacridone) phải pha trộn từ nhiều hạt sắc tố do hạt sắc tố ban đầu đã không còn tồn tại. Permanent Alizarin Crimson (hồng sẫm bất biến) cũng phải trộn nhiều hạt sắc tố để tạo ra màu có độ chịu sáng tốt hơn thay thế cho màu đơn sắc tố truyền thống có độ chịu sáng kém.Với người mới bắt đầu vẽ màu nước, cố gắng tránh pha trộn nhiều hơn 2 hoặc 3 màu.Hạng màu nước chuyên nghiệp, dành cho họa sĩ sẽ có phổ màu rộng và có nhiều màu đơn sắc tố, như Sennelier l’Aquarelle, Winsor and Newton Professional Water Colour, Schmincke Horadam, Holbein Artists’ Watercolour, Daniel Smith Extra Fine Watercolour, Old Holland Classic Watercolours, Rembrandt Artists’ Quality Extra Fine Watercolours, vv…Hạng màu sinh viên có giá phải chăng bởi không được làm từ hạt sắc tố đắt tiền, và màu ‘hue’ (hỗn hợp của nhiều hạt sắc tố) được dùng thay thế cho các màu cat-mi và cô ban đắt tiền. Hạng màu sinh viên thích hợp với người mới bắt đầu, sinh viên và họa sĩ để tiết kiệm chi phí. Hạng màu sinh viên thường có độ bất biến thấp nhưng để biết thông tin chính xác bạn nên tham khảo colour chart của loại màu mình dùng. Màu sinh viên có thể pha trộn cùng hạng họa sĩ. Các màu sinh viên phổ biến là St. Petersburg White Nights Artists’ Watercolour, Winsor and Newton Cotman Watercolour, Van Gogh, Dr. Ph. Martin’s, và Reeves.Hạng màu: họa sĩ, sinh viên và scholarMàu chất lượng cao được gọi là màu chuyên nghiệp, có tỉ lệ pigment cao so với chất kết dính. Vì thế màu cường độ mạnh và khi vẽ cần lượng màu ít hơn. Màu sinh viên có nồng độ pigment thấp, có thể pha trộn nhưng cường độ yếu. Màu scholastic (scholar) chứa pigment rẻ tiền, phẩm nhuộm và chất kết dính nhân tạo, không hãm, dễ rửa trôi.Chất lượng của chất kết dính cũng ảnh hưởng tới chất lượng màu. Sennelier thêm mật ong vào chất kết dính vì tin rằng nó tối ưu độ bền màu, nhưng một số họa sĩ lại thích độ đậm đặc của màu không sử dụng mật ong.Hạt sắc tố trong màu hạng họa sĩ được nghiền mịn hơn và trộn với gôm Arabic. Theo thời gian tất cả các màu, bất kể hạng nào, đều xảy ra hiện tượng là pigment trong tuýp tách khỏi chất kết dính gôm arabic. Nếu hiện tượng này xảy ra chỉ cần khấy màu và gôm lẫn vào nhau.Cấu trúc hạt phân tử của hạt sắc tố ảnh hưởng tới kích cỡ hạt khi nghiền, cuối cùng ảnh hưởng tới khả năng kết hạt. Điều này không ảnh hưởng tới chất lượng màu. Tuy nhiên, nếu màu có xu hướng kết hạt khi đáng ra không phải, ví dụ như Neutral Tint, thì là do màu chất lượng kém và bất ổn.Dưới đây là bảng liệt kê một số nhãn hiệu màu nước. Hạng chuyên nghiệp trước, hạng sinh viên sau nhưng không xếp loại cụ thể về chất lượng.Bảng thống kê một số nhãn hiệu và dòng màu nước hạng chuyên nghiệp và hạng sinh viên.TÊN MÀU HẠNG MÀU PHỔ MÀU KÍCH CỠ ĐÁNH GIÁ GHI CHÚ
A. Hạng Artis
1. WINSOR AND NEWTON ARTIST’S WATER COLOUR Chuyên nghiệp 96 màuTuýp: 5ml, 14ml, nửa bánh, bánh đầy đủ Màu nước ẩm đầu tiên được sản xuất (từ 1832). Được đánh giá rất cao.75 màu đơn sắc tố. Chất kết dính là gôm Kodorfan.
2. JACKSON’S PROFESSIONAL WATERCOLOURS Chuyên nghiệp 49 tuýp 21ml, bánh đầy đủ màu vẽ chất lượng, giá phải chăng Mật ong thêm vào chất kết dính để màu bóng và dẻo hơn.
3. HOLBEIN ARTIST’S WATERCOLOUR Chuyên nghiệp108 tuýp 5ml, 15mlTexture mượt mịn, hoạt động rất tốt Sản xuất tại Nhật Bản, thiết kế theo phong cách hội họa Nhật và châu Âu. Không sử dụng ox-gall, phụ phẩm động vật hay chất gây phân tán.
4. SCHMINCKE HORADAM WATERCOLOUR Chuyên nghiệp110tuýp 5ml, 15ml, nửa bánh, bánh đầy đủ 69 màu đơn sắc tố. Sản xuất tại Đức. Màu bánh được rót ướt vào khay theo 4 lớp. Từng lớp được để khô trước khi rót lớp mới. Tối ưu hoạt động và độ bền cho màu. 1 bánh màu sx trong 3- 5 tháng.
5. DANIEL SMITH WATERCOLOUR Chuyên nghiệp 231tuýp 15ml Được nhiều họa sĩ coi là nhãn hiệu màu nước tốt nhất thế giới!
6. MAIMERI BLU ARTIST’S WATERCOLOUR Chuyên nghiệp72 tuýp 15ml, nửa bánhPhổ màu ít, gồm các màu có độ trong suốt và chịu sáng tốt nhất 52 màu đơn sắc tố.
7. SENNELIER L’AQUARELLE Chuyên nghiệp 98 tuýp 10ml, 21ml, nửa bánh, bánh đầy đủ Sản xuất theo phương pháp truyền thống từ hơn một thế kỷ. l’Aquarelle ban đầu được phát triển với đặc trưng của trường phái Ấn tượng Dùng mật ong và gôm Kodorfan.
8. OLD HOLLAND CLASSIC WATERCOLOURS Chuyên nghiệp168 tuýp 6ml, 18ml, nửa bánh cường độ màu đậm đặc, không hãng nào sánh kịp Sản xuất tại Hà Lan.
9. SHIN HAN ARTIST’S WATERCOLOUR Chuyên nghiệp 83 tuýp 15ml giá màu bắt đầu từ £4/tuýp, là mức giá tốt đối với màu hạng họa sĩ Sản xuất tại Hàn Quốc, được nghệ sĩ có kinh nghiệm đánh giá cao.
10. DALER ROWNEY ARTIST’S WATERCOLOUR Chuyên nghiệp 80 tuýp 5ml, 15ml, nửa bánh Mang tên thương hiệu nổi tiếng Daler Rowney!
11. BLOCKX WATERCOLOURChuyên nghiệp72tuýp 15ml, bánh khổ lớnhữu dụng khi vẽ tranh khổ lớn hay wash rộng dùng mật ong tăng độ bền màu.
12. REMBRANDT PROFESSIONAL WATERCOLOUR Chuyên nghiệp 80tuýp 5ml, nửa bánh Độ trong suốt tối đa, màu tinh khiết.
B. Hạng SV
13. LASCAUX SIRIUS PRIMARY WATERCOLOURS hạng Sinh viên785ml, chai nhựa bóp Phổ màu rất hạn chế, chỉ có 7 màu sơ cấp đơn sắc tố. Được phát triển để khuyến khích pha trộn màu. Màu hạn chế dễ kiểm soát và hòa sắc hài hòa hơn.Là cách thức tuyệt vời để khám phá lý thuyết về màu sắc.
14. ST. PETERSBURG WHITE NIGHTS WATERCOLOUR hạng Sinh viên54 bánh đầy đủ Chất lượng tốt so với giá tiền Nội quy về sản xuất không siết chặt, texture màu không đồng nhất. Là loại màu có cường độ tuyệt vời và có nhiều khách hàng trung thành.
15.DR. PH. MARTIN’S HYDRUS WATERCOLOUR hạng Sinh viên24 lọ kính 15ml, nắp có ống nhỏ giọt. Màu nước dạng lỏng. Thích hợp cho airbrush, thư pháp, bút máy Chất lượng tốt, độ chịu sáng tốt, thân thiện với người sử dụng. Được người thiết kế đồ họa và họa sĩ minh họa ưa thích. Cũng được dùng cho mỹ thuật.
16. DR. PH. MARTIN’S RADIANT WATERCOLOUR DYES hạng Sinh viên56 lọ kính 15ml, 60ml, có ống nhỏ giọt. Màu tươi tắn nhưng độ chịu sáng kém. Màu làm từ phẩm nhuộm, thiết kế ban đầu để tái sử dụng cho vẽ minh họaCó thể được sử dụng để trang trí vải bằng cách thêm muối và giấm hoặc natri cacbonat.
17. WINSOR AND NEWTON COTMAN WATERCOLOUR hạng Sinh viên40 tuýp 8ml, 21 ml, nửa bánh Winsor and Newton giảm giá bằng cách thay hạt sắc tố đắt tiền bằng màu pha trộn từ nhiều hạt sắc tố thay thế, hoặc giảm nồng độ pigment “xịn” trong tube màu. Là dòng màu được dùng phổ biến, màu đẹp, giá tốt.
18. REEVES WATERCOLOUR SETS hạng Sinh viên / Trẻ em. Bộ màu cơ bản truyền cảm hứng cho người trẻ muốn thử nghiệm. Là bộ quà tặng lý tưởng cho trẻ em.19. Van Gogh hạng Sinh viên 40Tuýp 10ml, bánhTất cả các màu có độ chịu sáng tối đa (ít nhất 100 năm theo điều kiện bảo tàng)Màu đậm, độ trơn mượt đồng đều. Dành cho sinh viên và họa sĩ thích thử nghiệm.
20. Kuretake Gansai Tambi Watercolor hạng Họa sĩ 36. Bộ 12, 18, 24, 36 Màu làm thủ công, khả năng blend tốt, màu mịn, độ đục cao hơn so với màu nước châu Âu và Mỹ. Dùng cho ký họa, minh họa, sumi-e, etegami. Được chứng nhận không độc hại. Bánh màu có kích cỡ khoảng 2″ × 1″.Quy cách: màu bánh, tuýp, thỏi và dạng lỏng.Màu nước đóng thành tuýp (tube), bánh (pan), thỏi (stick), và dạng lỏng (liquid).Loại bánh là màu nước khô. Khi vẽ dùng bút lông ướt lấy màu. Bánh màu tiện mang di chuyển. Có hãng sản xuất bánh màu lớn cho người vẽ tranh khổ rộng.Tuýp màu chứa màu ướt. Có thể bóp hết màu ra khay, palette, san thành các bộ màu nhỏ hoặc trộn trước một số màu rồi cho vào bánh. Tube cũng hợp với người muốn vẽ màu đậm đặc.Thỏi là màu nước khô, giống viên phấn. Có thể dùng như loại bánh (bút lông ướt lấy màu) hoặc dùng như công cụ drawing (cầm thỏi màu (ướt hoặc khô) vẽ thẳng lên giấy).Màu nước dạng thỏi, hạng chuyên nghiệp của Winsor and NewtonMàu nước lỏng (Liquid Watercolors) chứa pigment hoặc phẩm nhuộm (dyes) trong dung dịch nước. Màu dạng lỏng đặc biệt tươi tắn, trong suốt, thích hợp cho lớp wash mỏng và airbrush cũng như vẽ bằng bút lông thông thường. Nhiều màu dạng lỏng chóng phai (fugitive) nên thường được dùng vẽ minh họa.Dr.Ph.Martin’s Hydrus Fine Art Liquid watercolor
Nguồn:https://www.jacksonsart.com/a-guide-to-watercolour-paintin

CẤU TRÚC MẢNG TRONG HỘI HỌA

        Trong hội họa nói chung, bố cục được xem như là tổng thiết kế cấu tứ và sắp xếp các yếu tố thị giác. Bố cục bao hàm nhiều nhân tố đối lập cùng với những tác dụng tương hỗ, hình và nền, sáng và tối, mặt phẳng và hình khối, góc nhìn và dẫn hướng, động thái và tĩnh thái… Để có được một bố cục hợp lý, việc tổ chức sắp xếp các mảng chính phụ, mảng trống,… có ý nghĩa hết sức quan trọng. Trong khuôn khổ bài viết này tôi không có tham vọng bàn luận kỹ đến bố cục của tác phẩm mà chỉ nêu lên một số suy nghĩ về cấu trúc của mảng trong sáng tác hội họa.

1. Quan niệm về mảng

Trên mặt phẳng của một bức tranh, nếu để nguyên vẹn một màu trắng của giấy hay vải toan để vẽ thì ta có thể gọi đó là mảng trống. Nếu ta chấm lên đó một chấm thì có thể gọi đó là điểm. Nếu tiếp tục chấm nhiều điểm vào đó thì ta có thể gọi đó là một mảng được tập hợp bởi nhiều điểm. Tương tự như vậy, ta có một tập hợp là nét gồm một mảng được cấu thành bởi các nét.

Theo từ điển thuật ngữ mỹ thuật phổ thông, một lượng màu nào đó chiếm diện tích nhất định trên mặt tranh, tạo thành một mảng riêng, phân biệt rõ rệt với các mảng màu xung quanh nó… thì đó được gọi là mảng màu. Sự phân biệt này có thể do độ đậm nhạt, nóng lạnh của màu sắc hoặc về nội dung hình thể trong tranh. Khi nói đến mảng màu, người ta thường chỉ các mảng màu lớn. Tuy nhiên, trong các mảng màu lớn, có chứa đựng các mảng màu nhỏ hơn. Trong tranh đen trắng thì đó là những mảng màu mang các sắc độ khác nhau của đen và trắng.

Các nét, hình và điểm, khi được tổ chức, sắp xếp một cách có ý thức, sẽ tạo nên một hình hoặc một khối. Như vậy, trong một mảng có thể có một hoặc nhiều hình, tập hợp của các nét và điểm và ngược lại, hình hoặc khối có thể là tập hợp của một hoặc nhiều mảng. Qua các lập luận trên, có thể đưa ra một quan điểm riêng của tôi về mảng như sau: Mảng là sự cấu thành của một hoặc nhiều hình, khối, cùng sự tham gia của các tập hợp của điểm, đường nét tạo nên.

Một bức tranh được hình thành trên cơ sở của nhiều mảng tập hợp lại. Sự sắp xếp, tổ chức của các mảng, qua sự sáng tạo của họa sĩ, đã để lại cho nhân loại những kiệt tác với rất nhiều trường phái và phong cách khác nhau.

2. Quan hệ giữa mảng hình và nền

Trong tự nhiên, không tồn tại mối quan hệ giữa hình tượng và bối cảnh, giữa hình và nền. Khi thị giác con người tập trung vào một điểm, họ dễ dàng coi mọi thứ xung quanh là bối cảnh và môi trường. Chính vì vậy, các họa sĩ lợi dụng sự giới hạn của thị giác, làm điểm nổi rõ lên thành hình, những cái còn lại thì xử lý thành nền. Để khống chế phạm vi hoạt động của thị giác, bối cảnh của hội họa, về cơ bản, đều bị khoanh lại trong giới hạn. Một số nhà tâm lý học đã phân định hình và nền như sau:“Hình có tính nhô nổi, mật độ cao, có cảm giác đầy chặt, có hình dạng rõ ràng, có đường bao hoặc đường ranh giới… Nền có tính lùi lại sau, mật độ thấp, không có cảm giác đầy chặt, hình dạng tương đối rời rạc, không có đường ranh giới cố định”(1).

Khi độ đậm nhạt của hình và nền gần như nhau thì sự phân biệt là đường chu vi, nếu đường chu vi cũng không rõ lắm thì phải dựa vào tác dụng của tính ngưng tụ của hình (tâm lý học thị giác gọi hình có tính ngưng tụ là hình đóng kín). Do kinh nghiệm và tri thức thị giác của mỗi người ít, nhiều khác nhau, cho nên thời gian để nhận biết hình vẽ và kết quả không thể giống nhau, tính ngưng tụ sẽ là mấu chốt trong việc thức tỉnh tín hiệu được lưu trữ của người đó.

Tính ngưng tụ của hình thông thường có hai loại tình huống: dẫn dắt thị giác liên kết các hình rời rạc, phân tán thành đường chu vi, thành chỉnh thể của hình; dẫn dắt thị giác liên hệ những phần chủ chốt thành mảng để bổ sung thêm hình thể.

Nhìn chung, từ góc độ nghệ thuật, tính ngưng tụ chỉ là tính năng tất yếu có của hình tượng nghệ thuật bên cạnh tính thuyết minh và giá trị thẩm mỹ. Nhiều tác giả không theo đuổi việc diễn tả thực hình thể, nhưng nhấn mạnh được đặc trưng điển hình của nó, ngôn ngữ hội họa biểu đạt được tinh thần của hình thể thông qua việc sắp xếp, cấu thành tác phẩm nghệ thuật.

Tính ngưng tụ của hình trong hội họa còn thể hiện thông qua màu sắc, đường nét, độ đậm nhạt, diện tích mảng hình, chất liệu, mật độ của hình,… từ đó tạo nên tỷ trọng, sự nặng nhẹ của hình thể trong tranh. Nếu xử lý đúng lúc, đúng chỗ các yếu tố trên thì các mảng hình sẽ ăn nhập hài hòa với phần nền và mang lại tính thẩm mỹ cao cho tác phẩm.

3. Cấu trúc mảng

Bất kỳ một tác phẩm nào muốn được làm rõ nội dung, chủ đề mà tác giả cần diễn đạt thì việc cần thể hiện là phần chính và phần phụ. Phần chính cần phải là phần trọng tâm và điển hình, phần phụ là phần hỗ trợ để phần chính thêm phong phú hơn và nổi bật trọng tâm hơn. Vì vậy, phần chính không thể quá lấn át phần phụ, và ngược lại, phần phụ cũng không được quá nổi bật mà làm mất đi trọng tâm (tức là lấn át phần chính). Các mảng chính, mảng phụ cần phải được phân biệt rõ ràng và có sự liên kết có tổ chức rõ rệt từ các mảng lớn, các mảng nhỏ, phần hình và khoảng trống, kết hợp với các mảng màu, các sắc độ, sự phân bố sáng tối, đặc biệt là hệ thống các mảng cho phù hợp với nội dung và cảm xúc của tác giả. Muốn để phần chính và phần phụ ăn nhập với nhau và mang lại hiệu quả thẩm mỹ, việc cân bằng thị giác là yếu tố quyết định.

Cân bằng thị giác

Sự cân bằng thị giác được tạo ra nhờ việc sắp xếp các hình thể mà mắt thường nhìn thấy được trên bề mặt của diện tích bố cục một cách hài hòa, hợp lý và ổn định; phải khái quát được diện tích đó, dù to hay nhỏ, như một tổng thể. Cũng vì thế, sự cân bằng thị giác còn được nhìn nhận như là sự cân bằng về trọng lượng. Một bố cục chỉ làm ta thỏa mãn khi các lực của nó được sắp xếp hợp lý. Bởi vì khi quan sát một hình thể, bao giờ chúng ta cũng phải xác định hình đó với không gian xung quanh, nói cách khác, đó là sự so sánh, liên hệ với không gian ấy để đo được các khối hình hai phía. Để cân bằng thị giác trong tranh, cần các yếu tố sau: thứ nhất, hình thể có trọng lượng lớn có thể cân bằng một hình nhỏ nhưng có đòn bẩy dài hơn, hay một hình có diện tích lớn hơn nhưng sắc độ mờ nhạt hơn so với nền thì cũng bằng một diện tích nhỏ hơn nhưng có độ đậm nhạt nổi hơn nó (tương quan hình – nền). Thứ hai, độ tương phản mạnh so với nền và xung quanh, tạo ra cảm giác nặng, nhẹ (2).

 Sau khi đã đạt được sự cân bằng về thị giác thì sức căng của bố cục cũng là vấn đề cần phải chú ý. Số lượng và chất lượng của hình và nền, với tỷ lệ to nhỏ, tương quan sáng tối, có ảnh hưởng rất lớn với vùng trống xung quanh và tạo sức căng cho toàn bộ kích thước bức tranh. Sắp đặt hình thể trong không gian sao cho bản thân chúng có mối tương quan mật thiết và hài hòa từ trung tâm đến các khu vực xung quanh. Đặc biệt lưu ý đến độ nhấn và khoảng trống đó là đối trọng giữa đầy và vơi, có ý nghĩa quyết định của một bố cục

Tổ chức sắp xếp mảng

Việc sắp xếp, tổ chức các mảng, hình, khối, độ đậm nhạt, đường nét,… có một ý nghĩa vô cùng quan trọng để nhấn mạnh trọng tâm và ý đồ thể hiện của tác giả với nội dung cần truyền đạt. Sắp xếp các mảng chính phụ hài hòa là việc làm đầu tiên của họa sĩ.

Nói đến mảng chính (mảng trọng tâm) tức là nói đến mảng lớn chứa đựng các mảng nhỏ hơn, trong đó có thể có các hình thể, hình khối. Các mảng, khối … được hình thành trên tổ hợp của các nét và của các điểm khác nhau. Tuy nhiên, các mảng đó phải tạo nên sự thống nhất, đồng bộ trong tổng thể bức tranh.

Sự thống nhất thể hiện ở các hình ở mảng chính rất cần tạo nên sự chặt chẽ về bố cục, sự sáng tạo trong cách tổ chức sắp xếp trong toàn mảng. Sự tổ chức sắp xếp bao gồm các mảng hình, các mảng đậm nhạt, sáng tối, các mảng đặc, khoảng trống, sự vận động của các hình, khối trong không gian, mật độ của các hệ thống nét và điểm, đặc biệt là chất của các mảng trong tổ chức của toàn hệ thống đó.

Trước khi sắp xếp, tổ chức các mảng lên mặt phẳng tranh, thông thường họa sĩ phải xác định mình vẽ trên khung hình loại gì, hình chữ nhật đứng hay nằm ngang, hình vuông hay hình tròn… Bên cạnh đó, anh ta cũng cần phải xác định mình sẽ vẽ tranh theo thể loại thấu thị gì để có phương án bố cục mảng cho hợp lý. Khi tổ chức sắp xếp mảng, rất cần chú ý đến các yếu tố sau:

Trước tiên là yếu tố cân đối. Tính cân đối được thể hiện bởi sự cân đối trong các mảng, hình khối, cân đối về đậm nhạt, về đường nét, về chất. Sự cân đối ở đây là sự tổ chức sắp xếp hợp lý về tỷ lệ giữa mảng chính với mảng phụ, giữa các khoảng trống, giữa các hình trong các mảng, giữa hình với hình, về tỷ lệ và cấu trúc của mảng sao cho thuận mắt. Phân bố độ đậm nhạt, màu sắc trong tranh cho nổi bật được nội dung cần diễn tả, đặc biệt là phải có sự liên kết hài hòa trong hệ thống sáng tối của bức tranh. Tổ chức hệ thống nét, hệ thống các điểm trong mảng cho phù hợp với tổng thể.

Tính cân đối về mảng được tổ chức sắp xếp bởi tỷ lệ các mảng chính với mảng phụ, với khoảng trống. Mảng chính cần có tỷ lệ vừa đủ để diễn tả về nội dung, không được to hay nhỏ quá và đặc biệt là phải đặt đúng vị trí sao cho hợp lý, hài hòa về bố cục.

Thứ hai là yếu tố tương phản, nói cách khác là sự đối lập. Trong hội họa, sự đối lập thường được thể hiện ở tỷ lệ giữa mảng chính và mảng phụ, giữa mảng với mảng, mảng với hình, giữa hình với hình, hình với nền, ở độ đậm nhạt, giữa mảng chính và phụ, với khoảng trống. Bên cạnh đó có thể còn có sự thay đổi, đối lập về phong cách tạo hình, tính cách nhân vật, về hình dáng các mảng, hình với nhau. Mảng hình cứng với mảng hình mềm, mảng chuyển động, mảng tĩnh,… Các mảng màu, độ nóng lạnh, về chất trong các mảng sẽ tạo nên tính tương phản trong tranh.

Sự đối lập để tạo nên sự chú ý hay nhấn mạnh trọng tâm sẽ là yếu tố rất quan trọng trong việc sắp xếp cấu trúc cho các mảng, tạo nên sự hài hòa trong tác phẩm. Tất cả sự đối lập trên khi được tổ chức sắp xếp hợp lý trong hệ thống của bức tranh sẽ tạo nên sự cân đối trong tranh và đặc biệt sẽ tạo nên bản sắc cũng như sự sáng tạo của người họa sĩ.

Thứ ba là yếu tố liên tục. Sự liên tục trong tranh là cần thiết, đây là cầu nối cho các mảng, các độ đậm nhạt, về đường nét, điểm trong tranh tạo nên sự liên kết vững chắc cho cấu trúc của mảng, tạo nên nhịp điệu của các mảng, sự vận động của khí trong tranh.

Thứ tư là yếu tố nhịp điệuSự thay đổi về tỷ lệ giữa các mảng, về hướng, về nét cứng, mềm, về tính chất tĩnh, động của các mảng sẽ tạo nên nhịp điệu. Sự phân bố về đậm nhạt, về tổ chức sắp xếp đường nét, điểm trong các mảng một cách hợp lý sẽ tạo nên cấu trúc mảng vững chắc và có những nhịp điệu trong hệ thống các mảng trong mặt phẳng tranh.Quan hệ giữa hình với hình, giữa hình với nền, quan hệ của hình với mảng, giữa mảng với mảng, giữa phần chính và phần phụ, quan hệ về tương quan, về sáng tối, về đậm nhạt,… được dựa trên các tính năng của từng loại khối và sự vận động của các hình, khối. Tiếp đó là sự liên kết giữa các khối và khoảng trống, sự kết hợp giữa các hình (vuông, tròn, tam giác) với nền. Cho nên việc sắp xếp, tổ chức các mảng nhỏ trong mảng chính cùng với bố trí đậm nhạt trong mảng chính và các mảng phụ cùng khoảng trống sẽ tạo nên tính nhịp điệu cho bức tranh.

Trong bố cục, yếu tố chính phụ luôn song hành với nhau. Mảng chính là phần trọng tâm để nhấn mạnh nội dung và chủ đề của tác phẩm nhưng mảng chính không hoàn chỉnh, có khi còn khô cứng, nếu không có sự bổ trợ của mảng phụ. Mảng phụ có thể là những mảng hình nhỏ hơn về diện tích đồng thời lực ngưng tụ ít hơn mảng chính, sắc độ cũng không rõ nét và ít sự biểu hiện hơn. Mảng phụ cũng có thể là các khoảng trống. Những khoảng trống này thực sự có tiếng nói trong tổng thể của một bức tranh. Một mảng phụ đẹp phải là một mảng phụ có tính liên kết và hỗ trợ với các mảng khác, đặc biệt là mảng chính. Sự cân đối của bức tranh khi và chỉ khi các mảng chính phụ cân đối với nhau về diện tích, về sắc độ, về đường nét, về chất, đặc biệt cần phải cân đối về sự ngưng tụ của hình thể được diễn tả trong tranh. Sự hỗ trợ của mảng phụ sẽ làm cho bức tranh rõ hơn về phần nội dung và làm cho tác phẩm hài hòa và ấn tượng.

Trong tác phẩm hội họa, những khoảng trống và cấu trúc của khoảng trống hết sức đa dạng. Những khoảng trống, hay gọi cách khác là không gian bao quanh chủ thể chính, là tập hợp các yếu tố phụ hoặc yếu tố giai thoại – có thể có một giá trị biểu cảm lớn hơn cả khoảng đặc (những yếu tố nhìn thấy, những hình thể hiện hữu). Thậm chí, những khoảng trống này cho ta một ý nghĩa sâu thẳm của bức tranh. Tuy nhiên, tất cả phụ thuộc vào vị trí mà những khoảng trống chiếm lĩnh trong khuôn hình và việc kết hợp khéo léo với các mảng hình trong tác phẩm.

Cấu trúc của các mảng cùng các hình tượng được đưa vào trong tác phẩm cần đơn giản và tinh luyện. Sự tổ chức, sắp xếp đó không những từng nét phải tinh tế, cẩn thận mà còn rất cần đến tạo hình biểu đạt chuẩn xác, sinh động. Sự sắp xếp, bố trí mảng rất cần đến sự phong phú song không rườm rà mà tinh giản, biểu đạt được nội dung thiết thực, thông qua các hình tượng điển hình. Khả năng thể hiện của nghệ thuật đối với thế giới mênh mông này là có hạn. Các nhà mỹ học cho rằng lấy một làm mười, chọn dùng những hình tượng hữu hạn để biểu hiện nội dung vô hạn, lời nói có tận cùng mà ý không tận cùng mới là cái đẹp nghệ thuật.

_______________

1. Vương Hoằng Lực, Nguyên lý hội họa đen trắng, Nxb Mỹ thuật, Hà Nội, 2007, tr.44.

            2. Lê Huy Văn, Trần Tư Thành, Cơ sở tạo hình, Nxb Mỹ thuật, 2006, tr.31.

Nguồn : Tạp chí VHNT

Tác giả : Trần Thanh Liêm

Những khái niệm căn bản của nghệ thuật thị giác đương đại

POSTED ON 24 THÁNG TƯ, 2019 BY MỸ THUẬT VIỆT NAM TẠP CHÍ24
Th4

Lời dẫn:

Cuối thế kỷ 20, chủ nghĩa hậu hiện đại (postmodernism) đã ảnh hưởng bao trùm lên tư tưởng sáng tạo của rất nhiều nghệ sĩ đương đại. Sự ra đời của hàng loạt các khái niệm mới: Anti-art (phản nghệ thuật ); Outsider art (nghệ thuật Bên ngoài);  Neo-DaDa (Tân DaDa); Conceptual art (nghệ thuật Khái niệm);  Psychedelic art (nghệ thuật Ảo giác ); Pop art (nghệ thuật Bình dân); Visionary art (nghệ thuật Hư ảo); Fluxus art (nghệ thuật Dòng chảy); Interactive art (nghệ thuật Tương tác); Assemblage art (nghệ thuật kết hợp); Postminialism art (nghệ thuật Hậu tối giản); Land art (nghệ thuật Miền đất); Installation art (nghệ thuật Sắp đặt); Lowbrow art (nghệ thuật Ít học); Graffiti art (nghệ thuật tranh trên tường đường phố);  Digital art (nghệ thuật Kỹ thuật số); Telematic art (nghệ thuật viễn thông); Performance art (nghệ thuật Trình diễn); Video art  (nghệ thuật Video); Neo-expressionism (nghệ thuật Tân biểu hiện); Appropriation art (nghệ thuật Chiếm hữu); Neo-Conceptual art (nghệ thuật Tân khái niệm ); ASCII art (nghệ thuật thiết kế đồ họa có sử dụng máy tính); Pevement art (nghệ thuật vẽ trên vỉa hè ); Plop art (nghệ thuật công cộng ); Live art (nghệ thuật Sống); Internet art (Nghệ thuật internet)… được gọi là các trào lưu của nghệ thuật hậu hiện đại (postmodermism art) và cũng được gọi chung là: nghệ thuật đương đại (bởi những trường phái trên thuộc về lĩnh vực mỹ thuật nên ta có thể gọi chính xác hơn là nghệ thuật thị giác đương đại) đã tạo nên những làn sóng mới trong thế giới nghệ thuật ở giữa và cuối thế kỷ 20…

Qua lịch sử sự hình thành các quan niệm của xu hướng thẩm mỹ  và những trải nghiệm của chính người nghệ sĩ, chúng ta có thể nhận thấy rằng:

Tiến trình đi đến cái đẹp là đa hướng – đa phương tiện – vô tận – không có điểm dừng kết thúc.

Ở đâu người nghệ sĩ được tự do phơi lộ trần trụi tâm trạng trình diễn những cảm xúc suy tư hoang vu dữ dội mãnh liệt nhất trong sâu thẳm nội tâm, trong bản ngã vô thức, ở đó là thiên đàng của cái đẹp mơ mộng, hoành tráng nhất, nghệ thuật được sáng tạo mãnh liệt nhất.

Tâm hồn trí tuệ thưởng ngoạn nghệ thuật luôn có nhu cầu tự do “nổi loạn cảm xúc và nhận thức” để có được sự thay đổi quan niệm về thẩm mỹ.

Cái đẹp luôn gào thét trong câm lặng mời gọi hồn thi nhân nghệ sĩ.

Lạc thú thị giác có thể xúc tác làm thăng hoa biến đổi tâm hồn trí tuệ.

Tác phẩm chính là dấu vết tâm hồn linh hồn của người nghệ sĩ.

Mỗi xu hướng mỗi kiệt tác nghệ thuật đều có triết lý riêng của nó.

Trình độ tâm hồn trí tuệ thẩm mỹ của một dân tộc được biểu lộ qua thi ca, âm nhạc, nghệ thuật, triết học và khoa học.

Thần sắc bí ẩn của cái đẹp được phát lộ bởi con mắt của bậc thầy có tuệ nhãn siêu việt.

Ba cái huyền diệu bí truyền của năng lượng thụ cảm cái đẹp: “Diệu tâm – Diệu trí –  Diệu mỹ”.

Vẻ đẹp thiên nhiên là ngôn lời hùng biện của Thượng đế, vẻ đẹp nghệ thuật là ngôn lời hùng biện của nghệ sĩ.

Trong màn đêm tĩnh lặng, nội tâm ta có thể thụ cảm được vẻ đẹp của cõi hư không.

Phát hiện ra bí ẩn của những cái đẹp của nghệ thuật là sự xuất thần của năng lượng trực giác, nhiều hơn là sự công phu khổ luyện.

Kỹ năng tuyệt hảo đòi hỏi công phu khổ luyện, khả năng thụ cảm thẩm mỹ là sự xuất thần bí ẩn của năng lượng trực giác

Nghệ thuật thị giác đương đại luôn có xu hướng sáng tạo: “Những hình thể phi lý vô trật tự gây ảo ảnh rối loạn thị giác”.

Danh họa Dalí viết: “Tự do là vô hình thể – một bông hồng sẽ là nhà tù”.

Một thi nhân danh tiếng viết: “Nghệ sĩ nhìn cái đẹp như chàng trai ngắm nhìn người tình”.

Dưới đây là một số những tư liệu do Museum TATE (Bảo tàng TATE Anh Quốc) biên soạn ghi chú một cách ngắn gọn súc tích, phát hành cung cấp thêm cho các nghệ sĩ tham khảo để có một cái nhìn tối thiểu tổng thể về các xu hướng của nghệ thuật thị giác đương đại.

CHỦ NGHĨA HẬU HIỆN ĐẠI (POSTMODERNISM)

Trong nghệ thuật, chủ nghĩa hậu hiện đại đặc biệt là một phản ứng chống lại chủ nghĩa hiện đại đã thống trị lý thuyết và thực tiễn nghệ thuật từ đầu thế kỷ XX. Thuật ngữ “Chủ nghĩa hậu hiện đại” (Postmodernism) cũng được sử dụng rộng rãi để mô tả các thách thức và thay đổi đối với các cấu trúc và hệ thống tín ngưỡng đã được hình thành trong xã hội và văn hoá phương Tây từ những năm 60 trở đi.

Thuật ngữ này được sử dụng lần đầu tiên vào khoảng năm 1970. Theo một phong trào nghệ thuật hậu hiện đại, một mức độ nào đó thách thức định nghĩa, vì không có một phong cách hậu hiện đại hay lý thuyết mà nó có thể được gắn bản lề. Nó bao gồm nhiều cách tiếp cận khác nhau đối với việc tạo ra nghệ thuật  và có thể bắt đầu bằng nghệ thuật POP vào những năm 1960 và bao gồm nhiều thứ như nghệ thuật Khái niệm, nghệ thuật  Tân biểu hiện, nghệ thuật Nữ quyền và của những nghệ sĩ trẻ của những năm 1990.

CHỦ NGHĨA HIỆN ĐẠI VÀ CHỦ NGHĨA HẬU HIỆN ĐẠI

Chủ nghĩa hậu hiện đại là một phản ứng chống lại chủ nghĩa hiện đại. Chủ nghĩa hiện đại nói chung dựa trên chủ nghĩa duy tâm và một tầm nhìn không tưởng về cuộc sống và xã hội của con người và niềm tin vào sự tiến bộ. Nó giả định rằng một số nguyên lý phổ quát tối đa hoặc các sự thật như những gì được hình thành bởi tôn giáo hoặc khoa học có thể được sử dụng để hiểu hoặc giải thích thực tại.

Các nghệ sỹ hiện đại đã thử nghiệm hình thức, kỹ thuật và các quá trình hơn là tập trung vào các chủ đề, họ tin rằng có thể tìm ra một cách để phản ánh hoàn toàn thế giới hiện đại.

Trong khi chủ nghĩa hiện đại dựa trên chủ nghĩa lý tưởng và lý trí, chủ nghĩa hậu hiện đại đã sinh ra do chủ nghĩa hoài nghi và sự nghi ngờ về lý trí. Nó thách thức quan niệm rằng có những điều chắc chắn hoặc là sự thật. Nghệ thuật hậu hiện đại đã dựa trên triết học từ giữa đến cuối thế kỷ XX, ủng hộ những trải nghiệm cá nhân và giải thích những kinh nghiệm của cái tôi là cụ thể hơn các nguyên tắc trừu tượng. Trong khi các nhà hiện đại đã cố gắng cổ vũ cho sự rõ ràng và sự đơn giản, chủ nghĩa hậu hiện đại đã chấp nhận các lớp hình thức phức tạp và thường mâu thuẫn về ý nghĩa.

Chống độc quyền của tạo hóa, chủ nghĩa hậu hiện đại đã từ chối thừa nhận quyền  uy  của bất  kỳ một phong cách trường phái đơn lẻ nào hoặc có thể định nghĩa lại nghệ thuật nên là như thế nào. Nó phá bỏ sự khác biệt giữa văn hóa cao với văn hóa quần chúng hoặc với văn hóa phổ biến giữa nghệ thuật và cuộc sống hàng ngày. Bởi chủ nghĩa hậu hiện đại đã phá vỡ các quy tắc đã được thiết lập về phong cách trường phái, nó đã giới thiệu một kỷ nguyên mới của tự do và ý thức rằng “mọi cái đều trôi đi”. Thường thì sự vui nhộn, giễu nhại hoặc đôi khi có thể là lố bịch; nó có thể bị đối đầu và được gây tranh cãi, nó thách thức ranh giới của các hình thái nghệ thuật. Nhưng điều quan trọng nhất, nó phản ảnh sự tự nhận thức về phong cách của chính nó. Nghệ thuật hậu hiện đại có thể tự ý thức vay mượn hoặc mỉa mai nhận xét bình luận trong một phạm vi nào đó về một loạt các phong cách trong quá khứ và thường pha trộn các phong cách trường phái, các phương tiện truyền thông và của những nghệ thuật khác nhau.

PHẢN NGHỆ THUẬT (ANTI-ART)

Phản nghệ thuật là thuật ngữ được sử dụng để mô tả nghệ thuật thách thức các định nghĩa hiện có của nghệ thuật.

Thuật ngữ “Phản nghệ thuật” đã được đặt ra bởi Marcel Duchamp vào khoảng năm 1913 khi ông làm readymades (đồ vật được sản xuất làm sẵn) đầu tiên của ông – điều đó đã gây được  sự chú ý trong một sự hiếm có như là phản nghệ thuật. Năm 1917, Duchamp đã gửi một chiếc chậu đi tiểu có tên là Fountain (Đài phun nước) cho một cuộc triển lãm ở New York, sau đó trở nên nổi tiếng và cuối cùng có ảnh hưởng lớn. Phản nghệ thuật có liên quan đến dada – một phong trào nghệ thuật và văn học được thành lập ở Zurich vào năm 1916 và đồng thời ở New York – trong đó Duchamp là một nhân vật trung tâm. Giới nghệ thuật đã có sự chuyển biến ảnh hưởng và chấp nhận “Phản nghệ thuật” như là một trò chơi chữ của Duchamp.

MARCEL DUCHAMP – Đài phun nước. 1917

NGHỆ THUẬT ĐẠI CHÚNG (POP ART)

POP ART  là một phong trào nghệ thuật nổi lên trong những năm 1950 và phát triển mạnh trong những năm 1960 ở Mỹ và Anh, lấy cảm hứng từ các nguồn văn hóa phổ biến và thương mại. Các nền văn hoá và quốc gia khác nhau đã góp phần vào phong trào trong những năm 1960 và 70.

Xuất hiện vào giữa những năm 1950 ở Anh và cuối những năm 1950 ở Mỹ, nghệ thuật pop đạt đến đỉnh điểm vào những năm 1960. Nó bắt đầu như là một cuộc nổi dậy chống lại các phương pháp chủ đạo đối với nghệ thuật và văn hoá và các quan điểm truyền thống về nghệ thuật nên là gì. Các nghệ sỹ trẻ cảm thấy rằng những gì họ được dạy ở trường nghệ thuật và những gì họ thấy trong các viện bảo tàng không có liên quan gì đến cuộc sống của họ hoặc những gì họ nhìn thấy xung quanh họ mỗi ngày. Thay vào đó, họ chuyển sang các nguồn khác như phim Hollywood, quảng cáo, bao bì sản phẩm, nhạc pop và sách truyện tranh cho hình ảnh của họ tạo dựng nên.

Nó làm cho những ngôi nhà ngày hôm nay khác biệt – bởi vậy hấp dẫn. (1956). Là một trong những tác phẩm đầu tiên được coi là “nghệ thuật pop”. Sự cắt dán của Richard Hamilton.

Năm 1957, nghệ sĩ nhạc pop Richard Hamilton đã liệt kê các “đặc tính của nghệ thuật pop” trong một lá thư cho bạn bè của ông – kiến trúc sư Peter và Alison Smithson:

“Pop Art là: Phổ biến (được thiết kế dành cho khán giả đại chúng) – Thoáng qua (Giải pháp ngắn hạn), Chi phí phải chăng (dễ lãng quên) – Chi phí thấp –  Sản xuất đại trà – Trẻ trung (nhằm vào tuổi trẻ) – Hạnh phúc – Sexy –  Quyến rũ – Phô trương –  Kinh doanh lớn.”

Các nhà phê bình hiện đại đã bị làm kinh hoàng bởi việc các nghệ sĩ nhạc pop sử dụng chủ đề bình thường như  vậy và bằng cách xử lý nó một cách không phê phán. Trong thực tế, nghệ thuật pop đã rơi vào các lĩnh vực mới của chủ đề và phát triển những cách mới trình bày nó trong nghệ thuật và có thể được xem như là một trong những biểu hiện đầu tiên của chủ nghĩa hậu hiện đại .

POP MỸ ĐỐI NGHỊCH VỚI POP ANH

Mặc dù họ đã được truyền cảm hứng bởi các chủ đề tương tự – pop Anh thường được xem là đặc biệt từ pop Mỹ.

Nghệ thuật pop ở Anh đã được thúc đẩy bởi nền văn hoá phổ biến –  ở Mỹ được nhìn từ xa – trong khi các nghệ sỹ Mỹ được lấy cảm hứng từ những gì họ nhìn thấy và trải nghiệm sống trong nền văn hoá đó.

Ở Hoa Kỳ, phong cách pop là sự trở lại của nghệ thuật biểu diễn (nghệ thuật miêu tả thế giới thị giác theo một cách dễ nhận thấy) và việc sử dụng các cạnh thô cứng và các hình dạng khác biệt sau sự lỏng lẻo xô lệch của chủ nghĩa biểu hiện trừu tượng. Bằng cách sử dụng hình ảnh phi nhân tạo, phi thường, các nghệ sĩ nhạc pop cũng muốn tránh xa sự nhấn mạnh vào cảm xúc cá nhân và biểu tượng cá nhân mang đặc trưng của chủ nghĩa biểu hiện trừu tượng.

Ở Anh, phong trào nghệ thuật mang tính học thuật hơn trong cách tiếp cận của nó. Trong khi sử dụng sự mỉa mai và sự nhại lại, nó tập trung nhiều hơn vào những gì mà hình ảnh phổ biến ở Mỹ đại diện và sức mạnh của nó trong việc vận dụng lối sống của người dân. Nhóm nghệ thuật thập niên 1950 Nhóm độc lập (IG) được coi là tiền thân của phong trào nghệ thuật Pop của Anh.

NGHỆ THUẬT SẮP ĐẶT (INSTALLATION ART)

Thuật ngữ nghệ thuật sắp đặt được sử dụng để mô tả các công trình có quy mô lớn – đa phương tiện – thường được thiết kế cho một địa điểm cụ thể hoặc trong một khoảng thời gian tạm thời .

Các tác phẩm nghệ thuật sắp đặt (đôi khi được mô tả là ‘môi trường’) thường chiếm toàn bộ không gian hoặc không gian phòng trưng bày mà khán giả phải đi qua để có thể tham gia đầy đủ vào công việc nghệ thuật. Tuy nhiên, một số thiết bị được thiết kế đơn giản chỉ để đi bộ và suy ngẫm hoặc rất mong manh mà chỉ có thể nhìn từ cửa ra vào hoặc ở cuối phòng. Điều làm cho nghệ thuật sắp đặt khác với tác phẩm điêu khắc hoặc các hình thức nghệ thuật truyền thống khác là  nó là một trải nghiệm thống nhất hoàn hảo chứ không phải là trưng bày các tác phẩm nghệ thuật riêng lẻ. Việc tập trung vào việc khán giả trải nghiệm công việc như thế nào và mong muốn mang lại trải nghiệm mãnh liệt cho họ là một chủ đề nổi bật trong nghệ thuật sắp đặt. Như nghệ sĩ Ilya Kabakov nói: “Diễn viên chính trong tổng số sắp đặt – trung tâm chính mà mọi thứ được giải quyết – với mọi thứ đều là người xem.”

Nghệ thuật sắp đặt nổi lên từ môi trường mà các nghệ sĩ như Allan Kaprow thực hiện từ năm 1957 trở đi mặc dù có những tiền thân quan trọng như Merzbau 1933  của Kurt Schwitters là môi trường của một số phòng được tạo ra trong ngôi nhà của họa sĩ ở Hanover. Trong một cuộc phỏng vấn không công bố xuất bản năm 1965, Allan Kaprow nói về môi trường đầu tiên của ông: “Tôi chỉ đơn giản là lấp đầy toàn bộ bộ sưu tập… Khi bạn mở cửa – bạn thấy mình đang ở giữa toàn bộ môi trường… Các vật liệu đã được thay đổi: các tấm nhựa – những tờ giấy lộn xộn – các miếng bọt Scotch – những vết rạch nham nhở – những miếng vải màu… 5 máy ghi âm đặt xung quanh phòng truyền đi âm nhạc điện tử mà tôi đã sáng tác vang lên khắp không gian”.

Từ những năm 1960 việc tạo ra các thiết bị sắp đặt đã trở thành một mảng chính trong nghệ thuật hiện đại. Điều này càng ngày càng trở nên rõ ràng từ đầu những năm 1990 khi sự sụp đổ của thị trường nghệ thuật vào cuối những năm 1980 đã dẫn tới việc làm sáng tỏ sự quan tâm đến nghệ thuật khái niệm (nghệ thuật tập trung vào các ý tưởng hơn là đối tượng). Các vật liệu khác (hỗn hợp) – ánh sáng và âm thanh vẫn là nền tảng của nghệ thuật sắp đặt.

NGHỆ THUẬT TRÌNH DIỄN (PERFORMANCE ART)

Tác phẩm nghệ thuật được tạo ra thông qua các hành động được thực hiện bởi nghệ sĩ hoặc những người tham gia khác có thể là trực tiếp hoặc được ghi lại tự phát hoặc có kịch bản.

Mặc dù thuật ngữ “trình diễn” và “nghệ thuật trình diễn” chỉ trở nên phổ biến trong những năm 70, lịch sử biểu diễn trong nghệ thuật thị giác thường được bắt nguồn từ những sản phẩm mang tính vị lai và dada – cabarets (cabarets là trò múa hát vui trong các quán rượu hay hộp đêm ở Mỹ vào những năm 1910.)

Trong suốt thế kỷ 20, màn trình diễn thường được coi như là một cách làm nghệ thuật phi truyền thống. Cuộc sống, phong trào vật chất và sự vô thường đã cung cấp cho các nghệ sĩ sự lựa chọn thay thế cho sự tĩnh lặng bất động  của các bức tranh và điêu khắc.

Trong giai đoạn hậu chiến tranh đã trở nên phù hợp với nghệ thuật khái niệm vì bản chất thường không quan trọng.

Bây giờ là một phần được chấp nhận của thế giới nghệ thuật thị giác, thuật ngữ này đã từng được sử dụng để mô tả các tác phẩm nghệ thuật bằng phim ảnh, video, nhiếp ảnh và sắp đặt thông qua đó là các hành động của nghệ sĩ – người biểu diễn hoặc khán giả được truyền tải.

Gần đây hơn, Perormance art được hiểu như là một cách trực tiếp được gắn liền với thực tế xã hội – những chi tiết về không gian và bản sắc của chính trị. Nó như là một phương tiện hơn là một tác phẩm nghệ thuật thuần túy để có thể tạo ra một tập hợp các câu hỏi và mối quan tâm về nghệ thuật liên quan đến con người và thế giới xã hội rộng lớn hơn.

NGHỆ THUẬT KỸ THUẬT SỐ (DIGITAL ART)

Nghệ thuật kỹ thuật số là thuật ngữ được sử dụng để mô tả nghệ thuật được tạo ra hoặc trình bày bằng cách sử dụng công nghệ kỹ thuật số.

Việc sử dụng thuật ngữ kỹ thuật số đầu tiên là vào đầu những năm 1980 khi các kỹ sư máy tính lập ra một chương trình vẽ được sử dụng bởi nghệ sĩ kỹ thuật số tiên phong Harold Cohen. Điều này được biết đến như là AARON – một loại máy robot được thiết kế để làm các bản vẽ lớn trên các tờ giấy đặt trên sàn nhà. Kể từ lần tấn công đầu tiên này vào trí tuệ nhân tạo, Cohen đã tiếp tục điều chỉnh chương trình AARON vì công nghệ trở nên phức tạp hơn.

Nghệ thuật kỹ thuật số có thể được máy tính tạo ra, quét hoặc rút ra bằng cách sử dụng máy tính bảng và chuột. Vào những năm 1990 nhờ cải tiến kỹ thuật số có thể tải video xuống máy tính cho phép các nghệ sỹ thao tác các hình ảnh mà họ quay bằng máy quay video. Điều này cho phép các nghệ sĩ tự do sáng tạo mà chưa từng có kinh nghiệm trước với bộ phim, cho phép họ cắt và dán trong sự di chuyển hình ảnh để tạo ra những hình ảnh cắt dán khác.

Trong thời gian gần đây, một số Digital art đã trở nên tương tác cho phép khán giả kiểm soát điều khiển được những hình ảnh cuối cùng.

NGHỆ THUẬT VIDEO (VIDEO ART)

Nghệ thuật liên quan đến việc sử dụng dữ liệu video và hoặc âm thanh dựa vào hình ảnh chuyển động.

Việc giới thiệu video vào những năm 1960 đã thay đổi hoàn toàn tiến bộ của nghệ thuật. Các khía cạnh quan trọng nhất của video là nó có được giá rẻ và đơn giản dễ làm cho phép các nghệ sĩ ghi lại tài liệu của họ và trình diễn một cách dễ dàng. Điều này đã tạo ra ít áp lực vào nghệ thuật của họ, đặt cho họ được tự do nơi bên ngoài phòng trưng bày.

Một trong những người tiên phong về nghệ thuật video là Bruce Nauman – người đã sử dụng video để khám phá các quy trình sáng tạo ẩn của nghệ sĩ bằng cách tự quay phim trong phòng thu của mình. Khi công nghệ video trở nên phức tạp hơn, nghệ thuật phát triển từ các bản ghi thời gian thực tế, sự gồ ghề biến đổi nhanh  của sắc đen và trắng cho tới ngày nay nhấn mạnh vào các sắp đặt màu lớn như các tác phẩm đa màn hình của Bill Viola. Các nghệ sĩ khác ví dụ như Gillian Wearing sử dụng một phong cách dùng tài liệu để tạo ra nghệ thuật về các khía cạnh ẩn của xã hội.

NGHỆ  THUẬT  MÔI  TRƯỜNG (ENVIRONMENTAL ART)

Nghệ

thuật môi trường là nghệ thuật giải quyết các vấn đề xã hội và chính trị liên quan đến môi trường tự nhiên và đô thị. Nghệ thuật môi trường thường có hình thức sắp đặt. Thuật ngữ này được sử dụng vào cuối những năm 1960 và thường liên quan chặt chẽ đến nghệ thuật trên đất liền .

Sự kết thúc của thế kỷ 20. Joseph Beuys

PHẢN HÌNH THỨC (ANTI-FORM)

Phản hình thức là một thuật ngữ gắn liền với một nhóm các nghệ sĩ làm việc tại Hoa Kỳ vào cuối những năm 1960 – những người nắm lấy cơ hội và các quá trình hữu cơ khác trong việc tạo tác các tác phẩm điêu khắc tối thiểu của họ.

Liên quan đến thời hậu chủ nghĩa tối giản – các nhà điêu khắc chống lại hình mẫu làm việc theo nguyên tắc hình thức nên được bắt nguồn từ những phẩm chất cố hữu của vật liệu đã chọn. Điều này khác với cách tiếp cận của các nhà điêu khắc nhỏ gọn trước đây đã áp đặt thứ tự trên vật liệu của họ và hạn chế bản thân với các hình dạng và cấu trúc hình học cố định.

Một ví dụ về Phản hình thức là tác phẩm điêu khắc “Untitled” (Chưa có tiêu đề) năm 1967 của Robert Morris – trong đó các dải treo của cảm ứng công nghiệp được phép rơi xuống mặt đất một cách tùy tiện. Bằng cách này nghệ sĩ đã phải từ bỏ sự kiểm soát của sự xuất hiện cuối cùng của tác phẩm nghệ thuật.

NGHỆ THUẬT DÒNG CHẢY (FLUXUS ART)

Fluxus art  là một tập thể tiên phong quốc tế hoặc mạng lưới các nghệ sĩ và nhà soạn nhạc được thành lập vào những năm 1960 và vẫn tiếp tục cho đến ngày nay.

Được thành lập vào năm 1960 bởi nghệ sĩ George Maciunas của Lithuania. Fluxus art bắt đầu là một mạng lưới các nghệ sĩ và nhà soạn nhạc nhỏ nhưng mang tính quốc tế được mô tả như là một thái độ chia sẻ hơn là một phong trào. Bắt nguồn từ âm nhạc thực nghiệm, nó được đặt tên theo một tạp chí có tác phẩm của các nhạc sĩ và nghệ sĩ tập trung quanh nhà soạn nhạc tiên phong John Cage .

Từ Latin, “Fluxus” có nghĩa là “Dòng chảy” trong tiếng Anh dòng chảy là một sự tuôn chảy. Người sáng lập Fluxus art là Maciunas – nói rằng mục đích của Fluxus art là “thúc đẩy một cuộc cách mạng tuôn chảy dữ dội ttrong nghệ thuật – thúc đẩy nghệ thuật đang sinh tồn và phản nghệ thuật”. Điều này có tiếng vang mạnh mẽ của dada – một phong trào nghệ thuật đầu thế kỷ thứ XX.

Beuys (Fluxus) và Christiansen (Fluxus) 1969. Joseph Beuys

Sự kiện Fluxus art đầu tiên được tổ chức vào năm 1961 tại AG Gallery ở New York và tiếp theo là các lễ hội ở Châu Âu vào năm 1962. Các trung tâm chính của hoạt động Fluxus là New York, Đức và Nhật Bản.

Fluxus art đóng một vai trò quan trọng trong việc mở ra những định nghĩa có thể được về nghệ thuật. Nó đã ảnh hưởng sâu sắc đến bản chất của việc sản xuất nghệ thuật kể từ những năm 1960 – vốn đã chứng kiến một loạt các hình thức nghệ thuật đa dạng và tiếp cận hiện tại và phát triển bên cạnh nhau.

Fluxus art không có phong cách thống nhất duy nhất. Các nghệ sỹ đã sử dụng nhiều phương tiện truyền thông và quy trình áp dụng thái độ “tự làm” cho hoạt động sáng tạo, thường xuyên biểu diễn ngẫu nhiên và sử dụng bất cứ phương tiện nào có sẵn để tạo ra nghệ thuật. Nhìn thấy mình như là một sự thay thế cho nghệ thuật, học thuật và âm nhạc. Fluxus art là một hình thức dân chủ của sự sáng tạo mở cho bất cứ ai. Sự cộng tác được khuyến khích giữa các nghệ sĩ và giữa các nghệ thuật cũng như với độc giả hoặc người xem. Nó có giá trị đơn giản và chống thương mại với sự tình cờ và ngẫu nhiên đóng một phần lớn trong việc tạo ra các tác phẩm và sự hài hước cũng là một yếu tố quan trọng.

Nhiều nghệ sĩ tiên phong quan trọng trong những năm 60 đã tham gia vào Fluxus bao gồm: Joseph Beuys, Dick Higgins, Alice Hutchins, Yoko Ono, Nam June Paik, Ben Vautier, Robert Watts, Benjamin Patterson và Emmett Williams.

NGHỆ THUẬT ÂM THANH ( SOUND ART)

Nghệ thuật âm thanh bắt nguồn từ những phát minh ban đầu của nhà ngôn ngữ học Luigi Russolo – người từ năm 1913 đến năm 1930 đã chế tạo ra những chiếc máy  gây tiếng ồn và làm lại tiếng ồn của thời đại công nghiệp và sự bùng nổ của chiến tranh. Các nghệ sĩ dada và siêu thực cũng đã thử nghiệm nghệ thuật sử dụng âm thanh. Tác phẩm Erratum Musical (Bản đính chính âm nhạc) của Marcel Duchamp gồm có ba giọng hát thu được từ một chiếc  máy nghe nhạc – một hành động dường như tùy ý có tác động đến các tác phẩm của John Cage – người mà năm 1952 đã sáng tác “4’33”– một bản nhạc dài bốn phút ba mươi ba giây im lặng (bốn phút ba mươi ba giây là 273 giây. Nhiệt độ âm 273 độ C – là tuyệt đối không).

Âm thanh của ánh sáng xanh. 2002. Gary Webb

Vào những năm 1950 và 1960 các nghệ sĩ thị giác và các nhà soạn nhạc như Bill Fontana đã sử dụng những tác phẩm điêu khắc động và phương tiện truyền thông điện tử – âm thanh được ghi trước  tồn tại chồng chéo để khám phá những không gian xung quanh.

Kể từ khi giới thiệu nghệ thuật âm thanh công nghệ kỹ thuật số đã trải qua một sự chuyển đổi triệt để. Các nghệ sỹ bây giờ có thể tạo hình ảnh trực quan để đáp ứng âm thanh cho phép khán giả kiểm soát điều khiển nghệ thuật thông qua tấm áp suất  bằng cảm biến kích hoạt giọng nói và trong các ví dụ như “Longplayer” (người rong chơi) của Jem Finer – một âm thanh được cộng hưởng để nó có thể kéo dài trong một nghìn năm.

Âm thanh là vật chất vô hình nhưng  nó là cảm xúc của tâm hồn. Nó có thể xác định một không gian cùng một lúc như nó gây nên trong ký ức.

NGHỆ THUẬT GARAFFITI (GRAFFITI ART)

Nghệ thuật graffiti là thuật ngữ dùng để chỉ các hình ảnh hoặc văn bản vẽ thường vào các tòa nhà thường sử dụng sơn phun.

Nghệ thuật graffiti có nguồn gốc từ những năm 70 của New York khi những người trẻ tuổi bắt đầu sử dụng sơn phun và các vật liệu khác để tạo ra những hình ảnh trên các tòa nhà và ở hai bên tàu điện ngầm. Hình vẽ graffiti có thể bao gồm từ các hình ảnh đồ họa sáng chói theo phong cách wildstyle (hoang dã) đến những biểu tượng cách điệu lồng vào nhau.

JEAN DUBUFFET – Hy vọng và sự lựa chọn. 1971

Graffiti như vậy là hiếm khi được nhìn thấy trong phòng trưng bày và viện bảo tàng nhưng thẩm mỹ của nó đã được kết hợp vào công việc của nghệ sĩ. Những tác phẩm nghệ thuật vẽ graffiti ban đầu bao gồm họa sĩ người Pháp Jean Dubuffet  –  những họa sĩ người New York, Jean Michel Basquiat và Keith Haring – những người có thể được định nghĩa là các nhà tiên phong về nghệ thuật đường phố. Gần đây, các nghệ sĩ graffiti như Barry McGee và Banksy đã có những tác phẩm của họ được trưng bày trong các không gian thương mại.

NGHỆ THUẬT MIỀN ĐẤT (LAND ART)

Nghệ thuật miền đất hoặc về đất đai là nghệ thuật được tạo ra trực tiếp trong các cảnh quan – tác phẩm điêu khắc đất tạo thành các công trình bằng đất hoặc làm cho cấu trúc trong cảnh quan sử dụng các vật liệu tự nhiên như đá hoặc cành cây

RICHARD LONG – Vòng tròn Sahara. 1988

Nghệ thuật miền đất là một phần của phong trào nghệ thuật khái niệm rộng lớn hơn trong những năm 1960 và 1970. Tác phẩm nghệ thuật miền đất nổi tiếng nhất là “Spiral Jetty” (Cầu tầu xoắn ốc) của Robert Smithson năm 1970 – một công trình đào bới xây dựng thành Great Salt Lake (Hồ muối vĩ đại) ở Mỹ. Mặc dù một số nghệ sĩ như Smithson đã sử dụng thiết bị di chuyển bằng máy cơ học để làm tác phẩm nghệ thuật của họ nhưng các nghệ sỹ khác đã thực hiện các biện pháp can thiệp tối thiểu và tạm thời trong phong cảnh như Richard Long – người chỉ đơn giản đi lên và xuống cho đến khi ông đã đánh dấu trên mặt đất.

Nghệ thuật miền đất – được biết đến như là nghệ thuật địa hình – thường được ghi lại trong các tác phẩm nghệ thuật sử dụng ảnh và bản đồ mà nghệ sỹ có thể trưng bày trong một phòng tranh. Các nghệ sỹ miền đất cũng đã làm nghệ thuật đất đai trong phòng tranh bằng cách đưa vật liệu vào từ thiên nhiên và sử dụng nó để tạo ra các bản sắp đặt .

Cũng như Richard Long và Robert Smithson – các nghệ sỹ đất đai chủ chốt bao gồm Walter de Maria – Michael Heizer và Dennis Oppenheim

NGHỆ  THUẬT NỮ QUYỀN ( FEMINIST ART)

Nghệ thuật Nữ quyền là nghệ thuật của các nghệ sĩ có ý thức trong ánh sáng của sự phát triển trong lý thuyết nghệ thuật nữ quyền vào đầu những năm 1970.

Năm 1971, nhà sử  học nghệ thuật  Linda Nochlin xuất bản một bài tiểu luận đột phá: “Tại sao không có nữ nghệ sĩ vĩ đại !?”. Trong đó, cô điều tra các yếu tố xã hội và kinh tế đã ngăn cản những phụ nữ tài năng đạt được tình trạng giống như nam giới.

Vào những năm 1980, các nhà sử học nghệ thuật như Griselda Pollock và Rozsika Parker đã tiến xa hơn để nghiên cứu ngôn ngữ lịch sử nghệ thuật với các thuật ngữ mang tính giới tính như “bậc thầy lớn” và “kiệt tác”. Họ đã đặt câu hỏi về vị trí trung tâm của hình ảnh người phụ nữ khỏa thân trong kinh điển phương Tây và hỏi tại sao đàn ông và phụ nữ được thể hiện một cách khác nhau. Trong cuốn sách năm 1972  “Ways of Seeing” (Cách nhìn nhận), nhà phê bình Marxist John Berger đã kết luận: “Đàn ông nhìn phụ nữ. Phụ nữ xem mình đang được nhìn vào”. Nói cách khác, nghệ thuật phương Tây tái hiện lại những mối quan hệ bất bình đẳng đã tồn tại trong xã hội.

GUERILLAGIRLS – Có phải phụ nữ khỏa thân làm việc để được tham dự Viện Bảo tàng. 1989

Trong những điều mà đôi khi được biết đến như là “First Wave” (Làn sóng Đầu tiên) của nghệ thuật nữ quyền, các nghệ sỹ nữ cảm thấy kinh nghiệm nữ tính – khám phá hình ảnh âm đạo và máu kinh nguyệt – giả vờ như nữ thần và sử dụng các phương tiện truyền thông giống như  công việc thêu thùa được coi là “công việc của phụ nữ”. Một trong những tác phẩm biểu tượng vĩ đại của giai đoạn này của nghệ thuật nữ quyền là “The Dinner Party” (Bữa tiệc tối) của Judy Chicago năm 1974.

Các nhà phê bình nữ quyền sau này đã bác bỏ cách tiếp cận này và cố gắng để lộ ra nguồn gốc của ý tưởng về nữ tính và họ theo đuổi ý tưởng về tính nữ tính như là một masquerade (dạ hội hóa trang) – một tập hợp các hành vi được phụ nữ chấp nhận để phù hợp với kỳ vọng của xã hội về nữ tính.

Guerrilla Girls là một tập thể phụ nữ – những người vẫn vô danh bằng cách mang mặt nạ khỉ đột và tự đặt tên cho mình sau những người đàn bà  nổi tiếng đã chết. Năm 1998 cuốn sách mới “Lịch sử Nghệ thuật phương Tây” của Guerrilla Girls – Người bạn đồng hành bên giường ngủ của The Guerrilla Girls đã viết:

“Chúng tôi là một nhóm phụ nữ và nghệ sĩ chuyên nghiệp chống lại  sự phân biệt đối xử. Chúng tôi là lương tâm của thế giới nghệ thuật – đối tác của hầu hết  các truyền thống nam giới của những người nổi tiếng vô danh như Robin Hood – Batman – và Lone Ranger. Chúng tôi đã sáng tạo ra hơn 80 áp phích – các tác phẩm in ấn – là những hành động  phơi  bày chủ nghĩa  phân biệt chủng tộc và sự phân biệt giới tính  trong thế giới nghệ thuật  và văn hoá nói chung… Chúng tôi  sử dụng tính hài hước để chứng minh rằng các nhà nữ quyền có thể hài hước … Chúng ta có thể là bất cứ ai –  chúng ta ở khắp nơi”.

NGH THUT T ĐNG PHÁ HỦY (AUTO-DESTRUCTIVE ART)

Nghệ thuật Tự hủy hoại là thuật ngữ do họa sĩ Gustav Metzger sáng tạo vào đầu những năm 1960 để mô tả các tác phẩm nghệ thuật cấp tiến của chính mình và những người khác trong đó sự hủy hoại là một phần của quá trình tạo ra tác phẩm.

Thuật ngữ Nghệ thuật Tự động phá hủy (Auto-Destructive) được tạo ra bởi Gustav Metzger ngay sau khi kết thúc Thế chiến II – trong thời kỳ bất ổn chính trị được gọi là Chiến tranh Lạnh. Việc phát minh ra vũ khí hạt nhân và sử dụng chúng bởi Mỹ chống lại Nhật Bản năm 1945 – đã để lại ấn tượng sâu sắc trên toàn thế giới. Trong phản ứng chống lại nhóm chống chiến tranh này – “Ủy ban của 100” (đã được Metzger tự đặt tên) được thành lập vào năm 1960 và Metzger bắt đầu vẽ những bức tranh bằng axit như một hình thức phản kháng sáng tạo.

GUSTAV METZGER – Giải trí Trưng bày Công cộng lần thứ nhất của Nghệ thuật Tự phá hủy. 1960

Metzger lần đầu tiên đề cập đến nghệ thuật Auto-destructive trong bài báo của ông “Machine, Auto-creative và Auto-destructive Art” (Máy móc – Tự động sáng tạo  và Tự động phá hủy) trong tạp chí Ark vào mùa hè năm 1962. Tuy nhiên, ông đã luyện tập hình thức này vài năm và sáng chế ra những bức tranh axit đầu tiên vào năm 1959 một phương tiện để phản đối chiến tranh hạt nhân. Các công trình này được tạo ra bằng cách phun axit lên trên tấm nylon tạo nên những hình dạng thay đổi nhanh trong tấm nylon làm cho tác phẩm tự động sáng tạo và tự hủy hoại: “Điều quan trọng là đốt một lỗ trong tờ giấy đó là nó đã mở ra một cái nhìn mới khắp Themes of St Paul’s Cathedral. (Những đề tài của Nhà thờ Thánh Paul ). Tự động phá hủy nghệ thuật không bao giờ đơn thuần là phá hoại. Phá hủy một bức tranh – bạn sáng tạo ra hình thức.” (Metzger trích dẫn của Stuart Jeffries, The Guardian, 2012).

Nghệ thuật Tự động phá hủy là vốn có về mặt chính trị; cũng mang theo những thông điệp anti-capitalist (chống chủ nghĩa tư bản) và chống lại người tiêu dùng. Nó đề cập tới niềm đam mê không lành mạnh của xã hội với sự phá hủy – cũng như tác động tiêu cực của máy móc vào sự tồn tại của chúng ta.

Năm 1966, Metzger và những người khác đã tổ chức hội nghị chuyên đề “Destruction in Art” (Sự phá hủy trong nghệ thuật) tại London. Tiếp sau đó là một hội nghị khác ở New York vào năm 1968. Hội nghị chuyên đề đã đi kèm với cuộc biểu tình nghệ thuật tự phá hủy của công chúng bao gồm việc thiêu cháy tháp Skoob của John Latham. Đây là tháp của những cuốn sách (skoob là sách đảo ngược) và ý định của Latham là để chứng minh trực tiếp quan điểm của ông rằng văn hoá phương Tây đã bị đốt cháy.

Năm 1960, họa sĩ người Thụy Sĩ Jean Tinguely đã tạo ra tác phẩm điêu khắc đầu tiên của mình là “Homage à New York” (Oh ! New York Tôn kính) – đã bị đập vỡ thành công trong “Vườn Điêu Khắc” của Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại – New York.

Vân Thuyết tổng hợp & sưu tầm

Workshop vẽ Tranh lụa cùng họa sĩ Vũ Đình Tuấn

Workshop vẽ Tranh lụa cùng họa sĩ Vũ Đình Tuấn

Tranh lụa Lụa là một loại vải mịn, mỏng được dệt bằng tơ… Do có cấu trúc dạng lăng kính, lụa phản chiếu ánh sáng chiếu vào nó với nhiều góc độ khác nhau để tạo nên vẻ óng ánh đặc trưng…Không giống như vẽ trên giấy, màu nước vẽ trên lụa thể hiện rõ ràng sự hòa quyện, mềm mại và linh hoạt. Khi vẽ lụa bằng màu nước, họa sĩ thường vẽ nhiều lớp màu chồng lên nhau. Đặc tính của lụa khiến cho kỹ thuật này trở nên vô cùng đặc biệt, màu đậm là do nhiều lớp màu nhạt tạo nên, và đây cũng là một cách phối màu độc đáo mà ở các chất liệu hội họa khác không có được.

Nội dung của buổi workshop bao gồm:

1. Nghệ sỹ giới thiệu về tranh lụa, giới thiệu những tác phẩm những tác phẩm tranh lụa nổi tiếng thế giới của họa sĩ Mai Trung Thứ, Nguyễn Phan Chánh, Lê Phổ…họa sĩ chia sẻ kinh nghiệm bản thân với tranh lụa trong nhiều năm sáng tác và thành công với Lụa.

2. Tham dự workshop các học viên sẽ được trực tiếp họa sĩ Vũ Đình Tuấn hướng dẫn kỹ thuật vẽ tranh lụa một cách bài bản từ việc căng lụa cho tới bồi lụa cuối cùng.

Thời gian: 8h – 16h Ngày: 28/11/2019 phí tham gia: 300k/hv có 2 khung lụa 30 x 40 nộp trước 23/11 . Chuyển khoản tới TK: 104000907740 vietinbank nội dung: họ tên + WSH LUA GA CS7

chú ý người tham gia sẽ chuẩn bị 2 phác thảo: 1 tĩnh vật hoa, và 1 bức chân dung.

số lượng tham gia 15 người.hotline: 0947.494.720

link đăng ký: https://docs.google.com/forms/d/1KL_84 KLsE69ZJPwemvtPP5hbZyPAvMCLVoKoR4rI4A/edit

Màu sắc cổ đại: từ tranh hang động đến Cô Gái Đeo Hoa Tai Ngọc Trai

TG. Phan Lặng Yên

Theo Nghiên cứu lịch sử

05fdafc759010b24c7a8b2dbd4179f60

Phan Lặng Yên

  • Tranh Hang Động và màu Ochre

Mục đích của những bức tranh hang động đến hiện nay vẫn không rõ ràng, tuy đây là những sáng tạo đầu tiên của con người, nhưng liệu nó mang mục đích mỹ thuật hay trang trí? Vì các hang động thường là nơi ở tạm bợ trong đời sống du cư, và tranh lại ở những vị trí khó tiếp cận. Nếu mang mục đích “hội họa/mỹ thuật” thì thứ đầu tiên được vẽ phải là con người. Nhưng không, các hình vẽ chi tiết nhất là hình bò, ngựa, động vật: các nguồn thức ăn – với mong ước săn bắt được nhiều hơn (mang màu sắc tín ngưỡng sơ khai). Đồng thời đây là một cách giao tiếp với những người đến hang sau đó: “Tôi đã từng ở đây”. Con người đôi lúc xuất hiện trên tranh, trong cảnh săn bắn, nhưng chỉ bằng vài nét đen đơn giản.

Các bức tranh này được vẽ bằng màu Ochre – kết hợp giữa loại đất/đá son (hoàng thổ) chứa sắt oxide có màu từ vàng, cam đến nâu đỏ, pha trộn với mỡ động vật – là một màu tự nhiên dễ kiếm và bền với thời gian.

altamirabison
2
3

Có một tranh hang động khá độc đáo được tạo bằng cách bôi mỡ lên tường, đặt tay lên rồi thổi bột màu.

informationtech-cavepainting.jpg

Màu này cũng được dùng phổ biến ở Ai Cập cổ đại và tranh tường La Mã

4
5

Đất son đỏ được người Phi châu dùng suốt 200,000 năm qua. Ngày nay các cô gái Himba ở Namibia vẫn dùng phương pháp ấy (trộn bột đất với mỡ động vật) rồi bôi lên người lẫn tóc sau khi bện, tạo nên màu da đỏ rực rỡ độc đáo.

  • Lapis Lazuli – màu xanh quý giá

Lapis Lazuli – một màu xanh ấn tượng nghiền từ một loại đá bán quý khai thác từ từ các mỏ quặng ở Đông Bắc Afghanistan từ thời Đồ-đá-mới, cách đây 9,000 năm. Lapis Lazuli trở thành món trao đổi đắt giá ở nền văn minh lưu vực sông Ấn, nó được tìm thấy trong hầm mộ đương thời ở Mehrgarh (Pakistan), ở Caucasus, thậm chí ở ‘tận cùng thế giới’ Mauritius (Tây Bắc châu Phi), cách mười mấy ngàn km. Sáu ngàn năm sau nó được dùng để vẽ mắt và lông mày cho mặt nạ xác ướp pharaoh Tutankhamun, tác phẩm nghệ thuật cổ đại nổi tiếng nhất.

6.jpg

Cuối trung cổ, Lapis Lazuli đến châu Âu. Vì sự quý hiếm của nó nên thời Phục Hưng, Lapis Lazuli chỉ được dùng (và thành một chỉ dấu) cho các tranh vẽ Đức mẹ.

Sassoferrato_-_Jungfrun_i_bön.jpg

Màu xanh này cũng là một trong những lý do làm nên bí ẩn của bức “Cô gái đeo hoa tai ngọc trai”, Vermeer lúc đó là hoạ sĩ nghèo với 11+4 đứa con. Một cô gái với khóe miệng cười mặc trang phục người hầu trong một bức tranh được chăm chút tỉ mỉ, thay vì các quý ông, mệnh phụ, tiểu thư thuê vẽ như lệ thường thời ấy.

866px-Girl_with_a_Pearl_Earring.jpg

Lapis Lazuli cũng được Van Gogh dùng trong Starry night, lúc này màu đã được đóng tuýp không cần phải tự mài nữa. Thời hiện đại thì có Yves Klein một thời gian dài chỉ dùng duy nhất màu này để vẽ.

8
9

Màu Egyptian-Blue

Các lăng mộ Pharaoh là nơi lưu giữ xác ướp hoàng đế với mong ước được tái sinh nên xác ướp được giữ kèm vô số vàng bạc châu báu và những đồ quý giá. Không những vậy, trên tường hầm mộ còn vẽ kèm đủ loại quan quân, cung nữ, cây trái, cao lương mỹ vị để mang theo. Các màu sắc để vẽ đều sẵn từ đất đá tự nhiên: màu Ochre, màu xanh ngọc, màu trắng đá phấn…. Nhưng có một thứ cần đem theo nhưng không tìm được màu phù hợp: sông Nile. Thời đó màu Lapis Lazuli quý giá đã được mang về từ Afghanistan nhưng lại quá hiếm và đắt đỏ để vẽ lên cả bức tường. Thế rồi sau nhiều tìm tòi, Egyptian-Blue ra đời, đây là màu nhân tạo đầu tiên được biết đến. Đến thời La Mã thì nó ít được dùng dần và đi vào quên lãng, nhưng có lẽ nó được tạo bằng đá xanh ngọc nung với cát sa mạc. Màu nhân tạo đầu tiên không chỉ có ý nghĩa với mỹ thuật mà việc biến được chất này thành chất khác là một bước tiến, một nhận thức lớn của loài người. Nó xác lập nền móng để giả kim thuật ra đời, giả kim thuật tuy ngàn năm thất bại nhưng mang lại vô số phát minh ý nghĩa cho loài người và là nền tảng cho ngành hóa học hiện đại.

11.jpg
12.jpg
  • Những màu sắc từ thời cổ đại khác

Màu đen carbon xuất hiện khi con người tìm ra lửa, rồi tìm ra cách đốt củi thành than nơi kín khí. Họa sĩ mọi thời đại luôn dùng than rồi than chì để vẽ phác trước khi vẽ nét. Chất liệu này hiện diện trong cả sơn dầu lẫn màu nước, đến cả mực in máy photocopy và máy in laser hiện tại. Trước kia, hai màu đen carbon nổi tiếng nhất là đen nho, được tạo thành khi đốt cây và cành nho, màu còn lại có được nhờ thu thập muội đèn.

Một màu đen khác xuất hiện từ thời cổ đại và được dùng đến ngày nay, màu đen-xương. Như tên gọi, nó được tạo thành bằng cách đốt xương hoặc những mẩu ngà voi bỏ đi, sắc đen nhạt hơn nhưng màu sệt hơn. Đây là màu yêu thích của danh họa Rembrandt, như trong tranh chân dung Philips Lucasz này

a.jpg

Cùng thời cổ đại, màu đỏ nâu đậm hơn ba màu Ochre vàng-cam-đỏ là màu umber,  đến từ một loại đá có oxit và hidroxit của sắt và mangan.

b.jpg

Cuối cùng, màu trắng, lime green, thời cổ thì đơn giản là một mẩu đá vôi. Sau này thì có thêm loại “Bianco san Giovanni” (tên một vị thánh tử đạo), được ngâm và thay nước 8 ngày rồi đem đi phơi nắng, tạo nên một hỗn hợp của đá vôi và Ca(OH)2.

GREEN ART CAMP – Trại hè bán trú
GREEN ART CAMP – Trại hè bán trú

GREEN ART CAMP là chương trình sinh hoạt nghệ thuật bán trú cho trẻ em từ 5 – 13 Tuổi

Địa điểm tổ chức: Green Art 1 tại số 38 ngõ 141 Nguyễn Khang, Yên Hòa, Cầu Giấy.

GREEN ART với thế mạnh giáo viên hướng dẫn nghệ thuật và kỹ năng trình độ cao. Trại hè Bán trú hướng tới giá trị cốt lõi là Chăm sóc, trải nghiệm, Sáng tạo và Trách nhiệm.
Trong trại hè các bộ môn nghệ thuật như Mỹ thuật, Âm nhạc và Kỹ năng sống… sẽ được triển khai với nội dung nhằm phát triển tài năng cá nhân và gắn kết tình bạn qua các hoạt động vẽ ngoài trời, dã ngoại, tìm hiểu nghệ thuật trong bảo tàng hay sinh hoạt nhóm…

Các bộ môn chính trong khóa: 

– Mỹ thuật sáng tạo và Mỹ thuật cơ bản

Các hoạt động trong khóa: 

– Kỹ năng thoát hiểm, kỹ năng thoát khi bị kẻ lạ mặt khống chế, xâm hại…
– Hoạt động nhóm
– Nghệ thuật truyền thống:
+ Em là nghệ nhân làm gốm, trang trí sản phẩm gốm
+ Trải nghiệm In tranh đông hồ
– Vẽ Dã ngoại trên bờ hồ, văn miếu, bảo tàng dân tộc học
– Tìm hiểu nghệ thuật tranh sơn mài truyền thống trong bảo tàng mỹ thuật.

Thời gian khai giảng :

+ Khóa1 khai giảng 3/6  (có thể đang ký ½ khóa) hoặc ttheo tuần)
+ Khóa 2 khai giảng 1/7  (có thể đang ký ½ khóa) hoặc ttheo tuần)
Lịch trại: Từ thứ 2 – 6 mỗi tuần – Đón trả trẻ từ 7h30 – 17h30 hàng ngày.

Thời khóa biểu trại hè Thực đơn trong trại hè Trại hè năm trước

Hạn đăng ký :
+ Khóa1 trước 30/5
+ Khóa 2 trước 30/6
Lệ phí: 5.000.000/khóa 4 tuần, Số lượng 7 học viên/ lớp ( Lệ phí đã bao gồm toàn bộ học phí, học liệu, tiền ăn bữa chính – phụ, chi phí vé thăm quan bảo tàng, dã ngoại )

Chú ý! phụ huynh có thể đăng ký theo tuần với mức hp 1.500.000vnđ

Đăng ký xe đưa đón 2.000.000/khóa

Ưu đãi: 
* Đăng ký và nộp học khóa 1 và 2 phí trước 25/05 và 25/6: giảm còn 4.000.000 đ/khóa

* Giảm 15% cho hai bé đăng ký cùng nhau.

* Giảm 10% khi đăng ký khóa chuyên sâu tiếp theo sau trại hè.

Cách thức đăng ký: qua hotline 0947494720 và Trực tiếp tại số 38 ngõ 141 Nguyễn Khang, Yên Hòa, Cầu Giấy.

Hoặc ĐK Online tại: https://docs.google.com/forms/d/e/1FAIpQLSckkVpdmo0OxA004z-NnU5LHGRXCg1ciNEXSeD2YQzhmILRXw/viewform?usp=pp_url

LIÊN HỆ VỚI CHÚNG TÔI ĐỂ ĐƯỢC TƯ VẤN CHI TIẾT. Hotline: 0947.494.720

7 yếu tố cơ bản của nghệ thuật tạo hình Mỹ thuật – Tạo hình

Thuộc lòng các nguyên tắc và các yếu tố của nghệ thuật giúp các nghệ sĩ sắp xếp ý tưởng, tác phẩm của họ và nghĩ về cách người khác phản ứng với những tác phẩm nghệ thuật của mình.

Tất cả các thiết kế, các tác phẩm nghệ thuật đều được hình thành từ 7 yếu tố sau.

  • Hình khối – Form (hình 3 chiều, rộng, cao, sâu),
  • Đường nét – Line,
  • Hình dạng – Shape (2 chiều, rộng và cao)
  • Màu sắc – Color
  • Chất liệu – Texture
  • Không gian – Space
  • Sắc độ – Value.

Hình khối – Form

Hình khối là một trong các yếu tố của nghệ thuật. Hình khối – Form có 3 giá trị để đo đạc là chiều cao, chiều rộng và chiều sâu. Nó có thêm giá trị về chiều sâu so với Hình dạng – Shape

Dưới đây là một số hình khối thông dụng.

Hình dạng – Shape

Hình dạng được tạo thành khi các đường nét gặp nhau. Hình dạng thì phẳng, có 2 chiều là bề rộng và độ cao, một số hình dạng hình học quen thuộc như, hình tròn, vuông, tam giác, chữ nhật, ovan và các hình dạng Organic (hình hữu cơ, phức tạp).

Đường nét – Line

Bạn có thể thấy đường nét ở khắp mọi nơi. Có rất nhiều loại đường nét. Có một số loại phổ biến như: Đường cong, đường thẳng, zigzag, đường đứt đoạn, đường nằm ngang, đường thẳng đứng, đường lượn sóng, đường song song, đường vuông góc.

Màu sắc – Color

Định nghĩa ngắn gọn thì màu sắc là thứ chúng ta thấy do phản xạ ánh sáng của mọi vật quanh chúng ta. Trong tự nhiên cầu vồng được sinh ra bởi ánh sáng trắng bị chia từng phần bởi độ ẩm trong không khí.

Con người đã phát hiện ra ánh sáng trắng có thể chia tách bằng cách sử dụng công cụ như lăng kính quang phổ.

Những màu sắc có thể nhìn thấy qua kính quang phổ là; Đỏ, Cam, Vàng, Xanh da trời, Xanh lá cây, màu chàm và tím.

Ánh sáng trắng bao gồm các màu trên pha trộn với nhau. Các đối tượng có màu sắc khi nó hấp thụ và phản xạ lại ánh sáng. Nếu một đối tượng hấp thụ tất cả các bước sóng ánh sáng thì nó sẽ có màu trắng. Đối tượng hấp thụ các bước sóng, nhưng không hấp thụ màu đỏ, nó sẽ có màu đỏ v.v.

Những người mù màu, hay bị thiếu hụt màu nào đó là do võng mạc không phản ứng với những bước sóng ánh sáng tương ứng.

Chất liệu – Texture

Chất liệu là cái gì đó bạn cảm thấy khi chạm vào. Người nghệ sĩ tạo ra những ảo ảnh của kết cấu thông qua các tác phẩm như tranh vẽ, thiết kế in, nhiếp ảnh v.v.

Cảm giác chất liệu được hình thành thông qua kinh nghiệm của mỗi người. Ví dụ; Nếu bạn chưa từng sờ một chiếc lông vũ thì bạn không bao giờ cảm thấy sự mềm mại của nó trong một tác phẩm bất kỳ.

Không gian – Space

Không gian là sự trống trải, không có gì xung quanh một tác phẩm, hoặc một yếu tố nào đó của nghệ thuật. Không gian có thể có hai chiều, ba chiều, nó có thể sinh ra cảm giác tích cực hoặc tiêu cực.

Nếu bạn (cố ý) sử dụng không gian ít cho tác phẩm của mình, người xem sẽ thấy chật chội, gò bó, bức bối. Ngược lại nếu bạn cho người xem nhiều không gian thì họ sẽ thấy thoải mái, thư thái.

Tất nhiên không phải ai cũng vậy, có những người chỉ cảm thấy an toàn khi ở trong một không gian chật hẹp, và rất sợ khi đối diện với những không gian rộng rãi.

Sắc độ – Value

Sắc độ là độ sáng/tối của một màu sắc. Đơn giản bạn tao ra sắc độ bằng cách thêm vào nó màu đen hoặc màu trắng

Trên đây là những yếu tố cấu thành một tác phẩm nghệ thuật. Vậy để có một tác phẩm đẹp người nghệ sĩ sẽ sử dụng các yếu tố này và kết hợp với các nguyên tắc của nghệ thuật để tạo thành một tác phẩm đẹp.

Vài bí quyết dùng màu của Salvador Dalí

Vài bí quyết dùng màu của Salvador Dalí

Nguyễn Đình Đăng trích dịch

từ “50 bí quyết của tay nghề ma thuật” (1948) của Salvador Dalí

Vì bạn thật may mắn khi có thể đọc cuốn sách này, trong đó không có bí quyết nào có thể được thấy viết ở bất kỳ nơi nào khác, đừng sửng sốt nếu bây giờ tôi tuyên bố với bạn – và đây là Bí quyết Số 25 – rằng hai màu đẹp nhất và có ích nhất hiện tồn tại là trắng và đen, và rằng sự cao quý đích thực trong nghệ thuật của mỗi cao thủ màu sắc phụ thuộc vào kiến thức dùng hai màu này làm nền tảng cho tác phẩm hội hoạ của bạn.(*)

(*) Hãy vào xem một trong những sưu tập ấn tượng nhất của nghệ thuật hiện đại. Nhìn tổng thể toàn phòng triển lãm lớn, tôi đã bị sốc bởi hiệu ứng bao trùm khủng khiếp của màu sắc toát lên từ tất cả những bức tranh kia. Điều này trước hết là do quan niệm gớm guốc về màu có từ trào lưu Ấn tượng, dẫn đến việc loại bỏ gần như hoàn toàn các màu đen khỏi bảng pha màu. Thành ra trong cái vẻ nhuốm tím, nhuốm lam, chen chúc, mụn rộp của tất cả những màu sắc đó, nhất là những sắc độ da thịt, mỗi màu trong chúng đều gợi lên, trước tất cả mọi thứ khác, các trạng thái khó chịu nhất của bệnh da liễu. Rõ ràng những bức tranh đó, được vẽ mà không có bất kỳ hiểu biết nào về lý tính và hóa tính của màu sắc, đã thay đổi toàn bộ ý đồ của các tác giả và có lẽ là những bức biếm họa thảm khốc nhất cho những ý đồ đó.

11022635_1555240988068129_7918486908709380404_n

Sau khi đã khổ luyện vẽ hình hoạ bằng màu nước một màu, tôi khuyên bạn dành sáu tháng để vẽ sơn dầu đơn sắc từ tượng thạch cao mà chỉ dùng hai màu trắng và hai màu đen. Liên quan tới điểm này, tôi phải dạy bạn một điều không phải bí quyết gì đối với mọi hoạ sĩ, nhưng nó sẽ lập tức trở thành bí quyết ngay sau khi được tôi nói ra. Thực vậy, điều được biết này là những phần sáng trong bức tranh của bạn liên quan tới ánh sáng phải được vẽ bằng nhiều vật chất hơn những phần tối liên quan tới bóng tối, tới mức mà những phần tối này không bao giờ có thể đủ mỏng và đủ phi vật chất, trong lúc đối với những phần sáng tôi sẽ cho phép bạn muốn phủ thêm bao nhiêu lớp cũng được, thậm chí để đạt tới độ dày đủ để được coi là “impasto” (các phần vẽ dày và đặc – ND). Được, bây giờ tôi sẽ phải nói cho các bạn biết tên của một màu độc nhất vô nhị và tôi khuyên các bạn – đây là Bí quyết Số 26 – luôn luôn trộn, không ngoại lệ, vàng Naples trong những liều lượng có thể cảm nhận được vào bất kỳ loại bóng tối nào. Đây là màu khí quyển tuyệt vời nhất. Tôi khuyên bạn dùng màu này mỗi khi bóng tối trong tranh của bạn bị không khí, thậm chí những làn gió nhẹ, xâm nhập, nếu bạn vẽ một bức phong cảnh (*).

(*) Vì kim loại có hại cho vàng Naples, bạn sẽ phải ghi nhớ điều đó và không bao giờ trộn màu này bằng dao. Nhưng sự phòng ngừa này vẫn chưa đủ vì lông bút vẽ cắm trong kim loại, có thể tiếp xúc với sơn. Cần có những chiếc bút lông đặc biệt để dùng thứ màu quý giá này, những chiếc bút mà lông được cột trong da cứng phủ varnish.[1]

Và bạn cũng phải biết rằng những màu vàng đẹp nhất có được nhờ phủ aureolin (vàng cobalt – ND) lên vàng Naples.

Như vậy tôi sẽ cho bạn sáu tháng để bạn có thể tự trải nghiệm các hiệu lực của đen và trắng. Liên quan đến điều này, đây là cái bạn phải biết. Trắng bạc [2] khô rất nhanh và che phủ rất đều, và đó là các tính chất bạn cần để dựng nền tranh. Trong khi đó trắng kẽm, tinh tế hơn, nhưng vô hạn lần sáng hơn, phải luôn được sử dụng trong những lượt phủ cuối cùng và phủ lên trên trắng bạc cho bất cứ cái gì cần lộng lẫy – một nụ cười hay một chiếc lông thiên nga. Mặt khác, các màu đen của bạn luôn khô chậm nhất trong tất cả các màu và toàn bộ công dụng của chúng là ở chỗ đó. Hãy tôn trọng tính chất này. Vì hãy biết rằng trong hội hoạ, các màu đen là những màu trong nhất, không phải về mặt vật lý mà trên phương diện độ tinh tế trong các sắc thái của chúng. Thế nên các đại cao thủ hoà sắc như Velázquez đã không ngần ngại dùng nó để vẽ những sắc độ da thịt thuần khiết một cách thanh nhã nhất và thiên đường nhất. Sắc độ của đen ngà voi là ngà rất tinh tế, và sắc độ của đen lam thì lạnh, nhuốm lam rất tinh tế. Các màu trắng của bạn cũng vậy: trắng bạc ấm, trắng kẽm giá băng.

Hòa sắc của một hoạ sĩ giỏi được dựa hoàn toàn trên cách sử dụng các sắc độ ấm và lạnh một cách nhịp nhàng và êm ái. Hãy hiểu rằng người ta biết ngay liệu bạn có phải một đại cao thủ hòa sắc hay không, và đó chính là cách chắc chắn nhất để biết, qua việc cho bạn vẽ một bức tranh chỉ với đen và trắng, trong một màu, được gọi là vẽ đơn sắc, hoặc camaïeu.

Trong khi cách vẽ đầu tiên bạn phải luyện tập là vẽ camaïeu, trước khi bạn bắt đầu làm quen với các bí ẩn khác, hãy hiểu rằng điều kiện cần cho toàn bức tranh là nó phải khô tự nhiên. Bức tranh không phải cánh cửa phải khô nhanh để người ta khỏi dính tay và quần áo vào nó. Đây là bí quyết của tôi: đừng bao giờ dùng bất cứ chất làm khô nào khi vẽ [3], bởi vì Bí quyết Số 27 là ở chỗ phẩm chất của bức tranh là nó phải khô chậm và đều.

Đối với các màu đen, bạn sẽ dùng đen ngà voi để vẽ lót, còn bạn dùng đen lam như dùng trắng kẽm, cho tiếng hát. Điều này chưa bao giờ từng được nói, và bạn có thể coi đó là Bí quyết Số 28 cho hoạ sĩ sành hòa sắc. Bởi vì bạn thậm chí có thể dùng lam đen láng một bức camaïeu vẽ bằng alla prima (vẽ ướt-trên-ướt hay vẽ trực tiếp – ND) với hai màu đen, và màu xám thu được sẽ trong mờ. Trong khi đó, nếu làm ngược lại, tức láng đen ngà voi lên trên đen lam, các màu xám của bạn sẽ bẩn và đặc sệt.

Đó là vấn đề của bạn về hòa sắc – vẽ camaïeu, và làm các sắc độ lam xuất hiện mà không cần màu lam, chỉ bằng chơi các độ đậm nhạt và uyển chuyển của vàng Naples, mà bạn sẽ dùng trong một số phần ấm nhất định của các bóng tối, và sẽ cho bạn ảo giác sáng, ấm của màu vàng trong các phần sáng của các “impasto” bằng trắng bạc. Nếu bạn có thể trở thành bậc thầy trong bài luyện tập này, bài tập không còn là vẽ kiểu camaïeu nữa – để ý nhé! – mà là vẽ kiểu Dalí, thì bạn có thể tự nói với mình rằng bạn biết vẽ!

Minh hoạ

Minh hoạ “Bí mật của hoạ sĩ sành hòa sắc” (1947) của Dalí.
Nửa trái: Vẽ lót. Dung dịch: dầu hạt thuốc phiện (poppy oil), dầu thông (essence of turpentine). Màu: trắng bạc (blanc d’argent), lam da trời (cenruleum), nâu Mars (Mars brown), vàng Naples, lam đen. Bút: bút bẹt, bút quạt.
Nửa phải: Vẽ phủ. Dung dịch: dầu lanh (dầu đọng), nhựa hổ phách (amber). Màu: trắng kẽm, vàng aureolin (vàng cobalt), đen ngà voi. Bút: bút tròn, bút đi nét.

*

Hãy nói cho chính mình rằng ngày hôm nay vẫn có màu vẽ và dầu vẽ đủ tốt để làm nên kiệt tác, và trừ khi bạn có khả năng đặc biệt đối với hóa học, hãy bận rộn với những cách thức thực tiễn và hợp lý để sử dụng chúng. Điều đó không có nghĩa nói bạn không nên làm nghiên cứu thường xuyên về đề tài này nếu bạn muốn. Nhưng hãy để cho nghiên cứu đó nằm trong khuôn khổ thí nghiệm song song với các bức tranh của bạn, mà bạn phải vẽ với hai chân đứng vững chãi trên mặt đất, sử dụng kinh nghiệm rút ra từ thất bại của các thí nghiệm của bạn hơn là từ thành công của chúng, thành công mà tôi khuyên bạn nên cách ly trước khi vội vã áp dụng với quá nhiều hứng khởi trong dòng chảy kỹ thuật hội hoạ đều đặn của bạn, nơi mà các cách thức càng chắc chắn và càng ít bất ngờ càng mang lại cho bạn nhiều phép lạ.

10425468_1555237848068443_2805023470451823281_n

Vậy nên, một mặt tôi khuyên bạn, và toàn tâm toàn ý khuyến khích bạn, hàng tuần mua mọi thứ mà sức người của bạn có thể đào bới được trong các cửa hiệu của những người bán hoạ phẩm và những người bị ám ảnh bởi các dung dịch thần diệu của hoạ sĩ cho dù chúng có hão huyền đến mấy, tới mức biến một phần xưởng hoạ của bạn thành một sào huyệt thực sự của nhà giả kim thuật. Mặt khác, tôi khuyên bạn, đồng thời lại cũng can ngăn với mức độ tương tự, rằng bạn nên sờ tới tất cả trò giả kim thuật và vật lý bệnh hoạn đó chỉ để thử và kiểm tra mọi thứ thôi, bởi có thể dung dịch mà bạn cho rằng phù hợp một cách lý tưởng để tạo nên các lớp láng phi vật chất lại té ra đúng là thứ bạn cần để làm đặc thêm về độ nhớt song đồng thời cũng làm bốc hơi luôn cái mạng nhện của một trong những con nhện quý giá của bạn! Vì thế, hãy làm một phân cách sắc gọn giữa các thí nghiệm và việc vẽ tranh của bạn. Và hãy vẽ bức tranh bằng các phương tiện đơn giản và chắc chắn nhất, hãy để cho số chai lọ đựng varnish, nhựa cây, dung môi và chất làm khô phục vụ bạn chỉ nhằm khẳng định quy luật. Như thế, xưởng của bạn phải được trang bị mọi thứ cho thí nghiệm. Nhưng trong việc vẽ tranh, tôi cấm bạn dùng các chất làm khô, bất cứ loại tinh dầu hay varnish nào, với chỉ vài ngoại lệ rất đặc biệt và quý giá mà bây giờ tôi sẽ liệt kê. Bạn không được dùng chất làm khô trong tranh của bạn trong bất cứ tình huống nào, bởi lẽ nếu bạn vẽ tốt bạn phải không bao giờ cảm thấy sự cần thiết của việc làm tranh khô nhanh hơn bình thường khi màu được trộn với dầu để khô. Phẩm cách của việc vẽ tranh không bao giờ là việc trở nên sốt ruột đợi một bức tranh khô. Ngược lại, bạn phải coi đặc quyền độc nhất này của hội hoạ sơn dầu như một sự xa xỉ vĩ đại: có thể tiếp tục tạo hình và lên bóng một cách dài dòng và không vội vàng trên sơn còn ướt, một đặc quyền mà, sau những kỷ luật sắt của đời bạn, sẽ hiện ra như Thiên Đường trước bạn. Vậy thì, hãy tống cổ sự vội vã ngu xuẩn mong tranh khô khỏi các ham muốn của bạn. Một lần nữa, bức tranh của bạn không phải là cánh cửa chặn bạn mà bạn sợ mình bị vấy bẩn khi đi qua, và tác phẩm nghệ thuật của bạn, với mục đích không gì thấp hơn là đạt tới sự bất tử, có thể chờ đợi và khô một cách chậm rãi, và phải là như thế xét từ tất cả mọi sự cần thiết. Bởi lẽ tất cả những vết nứt, vết rạn, ngả vàng hoặc đen, và thậm chí cả các tai nạn thảm khốc hơn nữa, đều bắt nguồn những sự mất cân bằng và thiếu hài hòa lý tính và hóa tính do những tác nhân xúi giục việc khô vội vã gây ra.

Trước khi mời các bạn của mình – những màu sắc – vào dự cuộc khiêu vũ trên bảng pha màu của bạn, hãy bắt đầu bằng việc lên danh sách các màu mà bạn sẽ không mời, và nhân đây, hãy nhớ câu nói dí dỏm mà ngắn gọn của bá tước De Grandsailles [4]: “Các cuộc khiêu vũ được mở cho những người không được mời.” Vậy nên, ngay lập tức, hãy biết tên các màu mà bạn phải cấm cho lên bảng pha màu của bạn bằng một cách rút phép thông công ngầm và im lặng và bởi những lý do vì sao bạn phải loại mọi màu phản trắc, mọi màu không bền, hoặc mọi màu, khi pha trộn với các màu khác, là nguyên nhân thường xuyên đưa đến kết thúc tranh chấp làm hỏng các quan hệ của một sự hài hòa đẹp giữa chúng và rốt cuộc phủ bóng lên sự lấp lánh và độ sáng trong bức tranh của bạn.

Hãy loại bitumen [5] khỏi bảng pha màu của bạn, trừ khi bạn muốn tạo ra, bằng cách trộn nó với các loại sơn cánh kiến, rạn nứt có thể sánh với hiến tượng địa chấn, bởi các vết nứt có thể bằng cách này đạt tới độ rộng vài milimet. Cũng tuyệt đối như với bitumen, bạn phải loại hoàn toàn umber nung (burnt umber). Và đó là vì sự cám dỗ của nó, tính giả dối và bội bạc của nó; cám dỗ bởi nó lôi cuốn nhờ sắc phớt lục đẹp, cái sắc phớt sẽ mất đi theo thời gian, để lại phần dư đen và bẩn; bội bạc vì màu này luôn tái xuất hiện một cách xảo trá và vô phương cứu chữa, làm đổi màu tất cả các lớp tiếp theo, bất kể chúng dày bao nhiêu; và cuối cùng, giả dối vì trên toàn bảng pha màu nó là màu khô nhanh nhất, ngay cả khi được pha thẳng với bất cứ màu nào, nó liền ảnh hưởng tức thì tới sự khô của màu đó, đến mức làm màu này đặc lại và trở nên bướng bỉnh trước mọi cố gắng siêng năng và ước ao nhất của cây bút vẽ của bạn. Hãy biết đó là Bí quyết Số 30 [6].

Sau umber nung, tôi khuyên bạn chỉ thảng hoặc mới mời lục đất (terre-verte hay đất Veronna), nếu bạn không thể thiếu nó, vì sự sang trọng nhỏ mọn và phù du gắn với sự hiện diện của nó, và nếu bạn không quyết định (như bạn cần phải làm) cắt đứt mọi quan hệ với nó, bởi bạn phải không thương tiếc tất cả các màu nào thay đổi tồi tệ theo thời gian. Bạn có thể giữ lòng trung thành cho tình bạn cũ bạn có với cái tên đẹp say đắm của Sienna nung (burnt Sienna) mà vẫn không bị quá nhiều nguy hiểm. Nó tự nhiên trong bản chất, và không thể nói là nó ngả đen, vì khi nó tối đi nó luôn ngả sang màu nâu, thành thử nó tạo ra một thứ lên nước (patina) đẹp.

Nếu, tuy thế, bạn không quan tâm tới yếu tố không thể cân đong đo đếm và, thêm nữa, không thể lường trước, dính dáng tới việc vun xới các mối quan hệ này, bạn có thể thay Sienna nung bằng màu đất Ý (Italian earth). Và tôi không nghĩ rằng bạn có nguy cơ bị mất nhiều đứng trên quan điểm cái tên. Bạn thậm chí không phải đi ra khỏi một nước [7].

Bây giờ, khi bạn đã biết những nhược điểm và sự phản bội của một số màu nhất định, và đó là điều bạn phải nhận thức, tôi sẽ dạy bạn những ưu việt của các màu mà bạn có thể trông đợi vào sự hào hiệp và lòng trung thành của chúng. Đầu tiên chiến hữu vĩ đại và trung thành của bạn, trong thất bại cũng như trong chiến thắng, sẽ là trắng bạc (blanc d’argent), bởi màu này phải tham gia, trong từng giây phút, vào mọi thứ bạn làm, đặc biệt khi bắt đầu, trong nền móng bức tranh của bạn, được gọi là lớp “vẽ lót”. Đây là bí quyết số 31. Tôi đã từng chỉ ra rằng màu này là một tay lành nghề trong việc xây dựng mọi thứ vững chắc, và, có thể nói, nó nhằm đảm bảo không chỉ độ bền mà còn cả sự hôn phối linh thiêng không thể chia cắt của các màu với nhau. Bạn sẽ dùng trắng kẽm dè xẻn thôi, thậm chí cả khi láng lên màu trắng bạc vững chắc của bạn, và như thế nó sẽ vẫn trong sạch vô song (Dalí viết bên lề: Bí quyết thêm. ND), và đây là màu mà với nó bạn sẽ đạt được những màu trắng tuyệt đối nhất trong bức tranh của bạn. Nó là con chồn bạch, là con thiên nga, là mây, là hình ảnh cực thuần khiết mà chỉ võng mạc của các hoạ sĩ mới cảm nhận được bên ngoài những tiếng than vãn và nghiến răng thiên đường và hạ giới của họ.

Bí quyết Số 32 là trong tất cả các màu đỏ màu xuất sắc nhất là đỏ Venetian (Venetian red), vì bạn không thể nào nhận được với bất cứ màu đỏ nào khác nhiều vẻ đẹp, sự huyền ảo, độ tinh vi với những sắc thái không đo đếm được đến thế. Ngoài ra, không một biến điệu (modulation) nào trong số đó có thể bị thay đổi, bởi vì độ bền và sự trung thành của màu đỏ này sẽ đứng vững trước mọi thử thách. Bạn phải yêu đỏ Venetian thật nhiều tới mức niềm say mê của bạn sẽ không còn chỗ nào cho đỏ Ấn Độ (Indian red), là màu, bất chấp giá trị độ bền và vẻ đẹp tự nhiên của nó, không cho bạn điều gì mới sau tất cả những gì đỏ Venetian đã truyền cho bạn. Đỏ Venetian là một màu đục với khả năng che phủ vô song, vì thế bạn sẽ dùng nó đặc biệt cho vẽ lót, trộn với trắng bạc để nhào nặn và xây dựng vững chắc các nền móng tranh của bạn. Trắng bạc, đỏ Venetian và đen lam [8] là ba cao thủ và là những màu chắc ăn nhất để chuẩn bị nền tảng đơn sắc cho các màu sắc vẽ da thịt của bạn.

*

Cái mà bạn phải luôn luôn ghi nhớ là nếu bạn chồng hai lớp màu cùng sắc độ lên nhau kết quả sẽ là màu mờ đục ghê sợ, đặc sệt và thiếu ánh sáng. Mặc khác, nếu lần nào bạn cũng tìm được màu tốt nhất để phủ lên nền của màu khác, cái nền đó sẽ biết ơn bạn vì khoái lạc của sự lộng lẫy trinh nguyên mà bạn đã hiến cho nó, bởi nó khiếp sợ xác thịt đã bị sự lặp lại làm trụy lạc. Ví dụ, nếu trên các sắc độ của da thịt dựa trên màu đất Venetian [8] bạn lại đi phủ một lớp màu đất Venetian mới, kết quả sẽ bẩn và thiếu sự lấp lánh. Nếu, ngược lại, trên màu đất Venetian bạn dùng Sienna nung, màu mới của bạn sẽ trở nên sạch và sáng hơn trước. Nếu bạn tiếp tục lớp màu thứ ba với vẫn màu Sienna nung, bạn lại làm bức tranh của bạn bẩn và đặc sệt, nhưng nếu bạn đi tiếp với những màu ocher (vàng đất), bạn sẽ ngạc nhiên thấy bức tranh của bạn bừng sáng ngay lập tức với một sự rực rỡ mới được thêm vào. Bây giờ bạn đã biết rằng nếu vẽ phủ lên vẫn bằng những màu ocher bạn sẽ phá hủy sự trong trẻo mà bạn vừa từng bước đạt được. Vì thế hãy phủ lên trên đó một lớp cadmium nhạt, và tôi hứa với bạn rằng, nếu ở lớp phủ tiếp theo bằng màu vàng barium mà bạn không nhìn thấy vàng ròng tỏa sáng dưới đầu bút lông của bạn thì điều đó có nghĩa là bất kể bạn làm gì, dứt khoát bạn không thể nào có khả năng rút ra bài học của bí quyết số 43 – tức là bạn sẽ không bao giờ thành công trong việc chế ra vàng trong hội hoạ. Và, hoạ sĩ ơi, tôi khuyên bạn trên mọi quan điểm rằng thà giàu còn hơn nghèo, trong vàng của các dầu mật của ánh sáng và của tiết diện vàng, cả hai đều có những tỉ lệ siêu phàm, một là trong độ nhớt của vật chất, và cái kia là trong hình học của tinh thần. Đúng! Tôi sẽ cho phép bạn dùng trong liều lượng nhỏ sự hòa nhập tối cao giữa các hạt màu của ánh sáng trần gian với nhựa thông Venice (Venetian turpentine), nhưng bạn phải hòa nó với các “dầu linh thiêng” của mình chỉ tại thời điểm cuối cuộc đời bức tranh của bạn, tức khoảnh khắc khi nó chuẩn bị đi vào bất tử.

Dịch xong ngày 2.03.2105
Minh hoạ của Salvador Dalí từ bản gốc cuốn sách
Chú giải của người dịch

Chú giải:

[1] Vàng Naples là hợp chất antimonate chì (II) Pb(SbO3)2/Pb3(Sb3O4)2, vì thế còn có tên tiếng Pháp là jaune d’antimoine (vàng ăng-ti-moan). Bột vàng antimony được dùng bắt đầu từ khoảng 3500 năm trước và được tổng hợp nhân tạo từ khoảng t.k. XVI. Vào năm 1631 màu vàng tương tự được tìm thấy trong khoáng chất từ nham thạch núi lửa Vesuvius tại Naples (Ý), vì thế mà thành tên. Ngày nay, vì antimonate chì độc, chỉ còn rất ít nhà sản xuất chế vàng Naples “xịn”, ví dụ Michael Harding. Hầu hết vàng Naples trên thị trường là mô phỏng, không bị bẩn khi tiếp xúc với kim loại. (Trích từ Nguyễn Đình Đăng, “Màu sơn dầu”). Do cách gọi trong tiếng Pháp, vàng Naples đôi khi bị nhầm với vàng antimony hay vàng Merimée, là hợp chất của antimony oxid chì và chloride oxide chì, do Jean François Léonor Mérimée (1757 – 1836) tìm ra năm 1830 theo công thức cổ Venice. Salvador Dalí khuyên nên loại vàng antimony hay vàng Merimée khỏi bảng màu.

[2] Silver white, tức trắng chì (lead white hay flake white, PW1). Xem mục 1 trong bài “Màu trắng của sơn dầu”.

[3] Siccative hay drier.

[4] Nhân vật chính trong tiểu thuyết “Những bộ mặt được che giấu” (1944) của Salvador Dalí.

[5] Bitumen là tên chung cho các chất do các chuỗi cao phân tử hydrocarbons tạo thành, xuất hiện trong tự nhiên hoặc thu được như sản phẩm chưng cất dầu mỏ. Nhựa đường và hắc ín là hai loại bitumen. Các bậc thầy cổ điển chế màu đen bitumen bằng cách đun chảy nhựa đường trong dầu thông, sau đó hòa dung dịch này với dầu khô, sáp ong và nhựa thông Venice (Venetian turpnetine). Một cách nữa là nung nhựa đường thành xỉ, sau đó tán thành bột rồi đem nghiền với dầu khô, như dầu lanh đun.

[6] Umber là màu khô nhanh nhất trong các màu đất, vì thế thường được các hoạ sĩ, đặc biệt là vào thời Baroque như Caravaggio, Rembrandt, và Vermeer dùng để vẽ lót hoặc láng. Vì umber có độ chịu sáng và độ nhuộm cao, dùng umber quá nhiều khi vẽ lót sẽ làm tranh tối dần khi các màu như trắng chì trở nên trong hơn theo thời gian, khiến sắc tối của umber lót bên dưới lộ ra. Cũng vậy khi dùng umber để láng. Đó là một trong những lí do khiến bức “Mona Lisa” của Leonardo da Vinci ngày nay hầu như chỉ còn sắc nâu. Cũng vì vậy mà Salvador Dalí khuyên không nên dùng umber. Song đó lại là một trong các lời khuyên cực đoan của Dalí. (Trích từ Nguyễn Đình Đăng, “Màu sơn dầu”).

[7] Nâu Sienna vốn được làm từ đất xứ Siena vào thời Phục Hưng, thuộc Cộng hòa Siena tồn tại từ t.k. XI tới XV tại vùng Tuscany nước Ý.

[8] Có lẽ Dalí nhầm với đen ngà voi mà ở phần trước ông khuyên nên dùng cho vẽ lót, còn đen lam chỉ nên được dùng để láng.

[9] Tức đỏ Venetian.

______________

© Nguyễn Đình Đăng, 2015 – Người dịch giữ bản quyền bản dịch tiếng Việt. Bạn đọc có thể lưu giữ bản dịch này để sử dụng cho cá nhân mình và chia sẻ miễn phí trên internet. Mọi hình thức sử dụng khác như in ấn, sao chép lại bản dịch này, dù là một phần hay toàn bộ, để phát hành trong các ấn phẩm như sách, báo chí, luận văn, hay nhằm mục đích thương mại (kể cả tại các trang thư viện điện tử trên internet mà để đọc được hay tải xuống người đọc phải trả tiền để mở tài khoản) v.v. đều vi phạm bản quyền nếu không nhận được sự đồng ý bằng văn bản của người dịch.

Salvador Dalí: Bí quyết hoạ sĩ phải trần truồng vẽ và bí quyết của thiên thần