Portfolio Category: Lớp Điêu khắc

Quy trình làm gốm thủ công truyền thống

Gốm, từ khi ra đời, đã luôn là một trong những sản phẩm nghệ thuật trang trí được yêu thích nhất đối với người Việt Nam. Những sản phẩm gốm trên website Gốm Nghệ Thuật luôn mang đến cho người tiêu dùng những sản phẩm gốm chất lượng nhất.

Để có thể làm được điều đó, thợ làm gốm của Gốm Nghệ Thuật đều có cho mình sự tỉ mỉ, sự khéo léo trong từng bước làm gốm. Do đó, từng sản phẩm gốm đều chất lượng, được tạo nên từ quy trình làm gốm sáng tạo, dưới sự kiểm soát chặt chẽ, chuẩn xác. Quy trình làm đồ gốm bao gồm nhiều công đoạn. Dưới đây là 5 bược làm đồ gốm sứ decor chi tiết mà Gốm Nghệ Thuật muốn được chia sẻ tới bạn.

Quy Trình 5 Bước Làm Đồ Gốm

Bước 1: Thấu Đất – Khâu Làm Đất

Bước đầu tiên trong quy trình làm đồ gốm là phải chọn đất sét và đất cao lanh loại tốt nhất. Tiếp đó, đát được tinh luyện qua nhiều công đoạn để có thể lấy được đất tốt nhất để có thể làm gốm.

Đất sét sau khi được khai thác thường rất rắn nên phải được tưới nước rồi dùng mai thái mỏng. Sau đó, đất sẽ được loại bỏ những tạp chất và dùng chân nhào thật kỹ rồi đắp thành từng đống lớn. Đất sẽ được thái đi thái lại nhiều lần để tạo nên độ mịn, dẻo. Bước làm gốm đầu tiên này gọi là thấu đất.

Bước 2: Chuốt Gốm – Bước Tạo Hình Đồ Gốm

Trên thực tế, có tới 3 phương pháp để tọa hình gốm chính, đó là:

  • Tạo hình trên bàn xoay
  • Tạo Hình bằng khuôn
  • Nặn đắp bằng tay

Tuy nhiên, có những trường hợp sản phẩm gốm được tọa ra bởi sự kết hợp giữa cả 3 phương pháp trên. Chi tiết cách làm các bước như sau.

Tạo Hình Gốm Trên Bàn Xoay

Sau khi đất được luyện kỹ vừa và có độ dẻo nhất định, sẽ được nặn thành dây dài, to bằng cổ tay. Người thợ sau đó sẽ chuốt ngắt từng đoạn, khoanh trũng giữa bàn xoay.
Chân phải đjap bàn, chuốt đất bằng 2 tay. Sản phẩm gốm với kích thước to hay nhỏ, dày hay mỏng đều được điều khiển bởi bàn tay người thợ. Cách tạo hình gốm bằng bàn xoay thường được sử dụng cho những sản phẩm có kích thước lớn như: lọ, chum, bình…

Tạo Hình Bằng Khuôn

Phương pháp tạo hình gốm bằng khuôn thường được áp dụng trong sản xuất các sản phẩm gốm có khối lượng vừa phải như: bát, chén, đĩa…

Tạo Hình Gốm Bằng Tay

Kỹ thuật này được thể hiện rất rõ ở các con kê, trên đỉnh gốm, lon, vại, bao nung hay các loại linh thú, tượng…

Bước 3: Trang Trí Hoa Văn

Tương tự như bước tạo hình gốm, trang trí hoa văn cho sản phẩm gốm đã được tạo hình cũng được thực hiện bằng nhiều phương pháp khách nhau.

Vẽ Trực Tiếp Trên Gốm

Ở công đoạn này, người thợ sẽ dùng bút lông để vẽ trực tiếp trên nền mộc các họa tiết, hoa văn. Để thực hiện công đoạn này một cách hoàn hảo, người thợ phải có tay nghề cao, hoa văn trên gốm phải được vẽ chi tiết và hòa hợp với dáng gốm. Chính điều này đã nâng tầm các sản phẩm gốm thành một loại hình nghệ thuật tinh tế.
Những sản phẩm gốm sau khi được tráng men rồi trang trí hoa văn. Công đoạn này được gọi là vẽ trên men. Còn trang trí hoa văn trước rồi tráng men được gọi là vẽ dưới men.

Cắt Gọt & Khắc Vạch Trực Tiếp

Những sản phẩm gốm sau khi được chuốt sẽ được phơi nắng cho đến khi đất se cứng lại, tiến hành sửa, gọt và cạo nhẵn theo ý muốn. Cách khắc vạch là phương pháp chủ yếu để trang trí hoa văn cho gốm. Ở công đoạn này, người thợ gốm sẽ vẽ hoặc vạch trực tiếp lên xương gốm sau đó sẽ đem nung.

In Hoa Văn Bằng Khuôn

Với một số sản phẩm gốm có hoa văn được khắc chìm vào xương gốm đều được thực hiện bằng phương pháp in khuôn. Cách này được áp dụng với các sản phẩm gốm men ngọc hay gốm men hoa nâu.

Bước 4: Tráng Men

Khi sản phẩm mộc đã hoàn chỉnh, người thợ có thể nung sơ gốm ở nhiệt độ thấp rồi dem tráng men hoặc dùng ngay sản phẩm mộc đó trực tiếp tráng men rồi mới nung. Người thợ gốm thường chọn phương pháp tráng men trực tiếp lên trên gốm mộc hoàn chỉnh. Trước khi đem tráng men, sản phẩm phải được làm sạch bụi bằng chổi lông.

Sản phẩm mà xương gốm có màu trước khi tráng men bắt buộc phải có một lớp men lót để có thể che bớt màu của xương gốm và đồng thời cũng phải tính toán đến tính năng của mỗi loại men định tráng trên từng loại xương gốm, nồng dộ men, mức độ khó của xương gốm và cả thời tiết. Trên thực tế, kỹ thuật tráng men gồm nhiều hình thức như phun men, dội men lên bề mặt, nhúng men đối với loại gốm nhỏ tuy nhiên, thông dụng nhất là hình thức láng men ngoài sản phẩm – “kìm men”. Khó hơn cả là “quay men” hay “đúc men”.

Công đoạn “quay men” là hình thức tráng men bên trong & ngoài cùng 1 lúc. “Đúc men” thì chỉ tráng men trong lòng sản phẩm. Những thủ pháp tráng men trên là kĩ thuật, nó cũng là nghệ thuật được bảo tổn qua nhiều thế hệ. Thậm chí, ta có thể nói đó là bí quyết trong nghề nghiệp.

Sửa Hàng Men

Sửa hàng men tức người thợ gốm sẽ tiến hành tu chỉnh lại sản phẩm gốm lần cuối cùng trước khi cho vào lò nung. Người thợ gốm sẽ xem xét kĩ từng sản phẩm, tìm xem có khuyết men chỗ nào không thì phải bôi men vào. Tiếp đó, họ sẽ “cắt dò” tức cạo bỏ những phần men thừa. Công việc này được gọi là “sửa hàng men”.

Bước 5: Nung Sản Phẩm Gốm

Đây là công đoạn cuối cùng và cũng là quan trọng nhất trong tất cả các bước. Sản phẩm gốm thành công hay thất bại đều được quyết định ở bước này. Có nhiều loại lò nung gốm tuy nhiên phổ biến nhất phải là lò có hay lò bầu và gần đây là lò hộp.

Nhiên liệu để nung gốm là than cám, củi hoặc là gas. Thời gian nung gốm sẽ được quyết định tùy theo loại vỏ và hình dáng của sản phẩm. Nếu là gốm đất nung, nhiệu độ sẽ từ 600 – 900°C, gốm sành nâu từ 1100 – 1200°C, gốm sành xứ từ 1200 – 1250°C, gốm sành trắng từ 1250 – 1280°C và cuối cùng là đồ sứ từ 1280 – 1350°C.

Triển lãm hội họa”Tôi Là Ai ?” lần 2 -2022
Triển lãm hội họa”Tôi Là Ai ?” lần 2 -2022

“Tôi là ai ?”2

“Tôi là ai?” là hành trình tìm lại chính mình, tìm lại ước mơ, tình yêu, sở thích bị lãng quên, bị đè nén, bị khất hoài của các thành viên lớp họa sỹ tự do tại Green Art Studio.

Tiếp nối lần ra mắt thứ nhất vào tháng 5/2020. Vẫn với mạch cảm xúc tinh khôi của người mới vẽ, triển lãm đã cho người xem thấy những nỗ lực không ngừng vượt lên chính mình để được thể hiện ước mơ cầm cọ, được sáng tạo, được tái tạo chính mình…Bởi ngoài đời mỗi người với những cuộc sống riêng, công việc rất khác nhau nhưng họ có cùng một đam mê là được vẽ, được là mình. Mỗi tác phẩm trong triển lãm là cái nhìn tham chiếu của mỗi người về chính bản thân là nơi tâm hồn bay bổng, nơi trút nỗi buồn, hay nội tâm giằng xé, một khoảnh khắc đẹp của bốn mùa và thậm trí là vấn một vấn đề xã hội mình quan tâm qua tranh đã được hiện ra. Hội họa với mỗi thành viên đã trở thành miền đất hứa cho họ kể câu chuyện cuộc sống, tình yêu hay nội tâm thầm kín. “Tôi là ai” lần 2 này với hơn 100 tác phẩm trên các chất liệu sơn dầu, màu nước, acrylic, bột màu,khắc gỗ chúng là những đứa con tinh thần đầu tiên trên hành trình tìm lại chính mình của những thành viên lớp họa sỹ tự do đem ra giới thiệu với công chúng, bạn bè và người thân.

Triển lẫm sẽ diễn ra tại Trung tâm Triển lãm số 29 Hàng Bài Hà Nội từ ngày 8/6 – 12/6/2022

                                                                                   Ths, Hs. Vũ Xuân Tình

Báo chí đưa tin về triển lãm:

VTV: https://vtv.vn/van-hoa-giai-tri/trien-lam-toi-la-ai-hanh-trinh-tim-lai-chinh-minh-20220603170516192.htm

Báo Công Luân: https://www.congluan.vn/toi-la-ai-lan-thu-2-trien-lam-tranh-nghe-thuat-ve-hanh-trinh-kham-pha-cai-toi-post197821.html?zarsrc=31&utm_campaign=zalo&utm_medium=zalo&utm_source=zalo

Trại Hè Lưu Trú Nghệ Thuật/Art Summer Camp/ 예술 여름 캠프
Trại Hè Lưu Trú Nghệ Thuật/Art Summer Camp/ 예술 여름 캠프

GREEN ART CAMP là chương trình sinh hoạt nghệ thuật lưu trú cho trẻ em từ 5 – 10 tuổi

GREEN ART với thế mạnh giáo viên hướng dẫn nghệ thuật và kỹ năng trình độ cao. Trại hè lưu trú hướng tới giá trị cốt lõi là chăm sóc, trải nghiệm, sáng tạo và trách nhiệm.
Trong trại hè các bộ môn nghệ thuật như Mỹ thuật sáng tạo, và workshop art, Kỹ năng sống… sẽ được triển khai với nội dung nhằm phát triển tài năng cá nhân và gắn kết tình bạn qua các hoạt động vẽ ngoài trời, dã ngoại, tìm hiểu nghệ thuật trong bảo tàng hay sinh hoạt nhóm…

Các hoạt động trong khóa/
코스 활동:

  • Mỹ thuật sáng tạo (sáp dầu, màu nước, acrylic)/ Fine art/ 미술
  • Đồ họa tạo hình/ 인쇄 마킹
  • Tái chế, hand made, điêu khắc
  • Thời trang ứng dụng
  • Mỹ thuật truyền thống/ Traditional fine art/ 전통 미술
  • Hoạt động dã ngoại / 야외 활동
  • Vẽ dã ngoại tại thắng cảnh Hà Nội, Bảo tàng dân tộc học, không gian văn hoá Đồng Mô…
  • Workshop tại làng nghề sơn mài Hà Thái.
  • Tìm hiểu nghệ thuật hội hoạ đương đại trong bảo tàng mỹ thuật, xem triển lãm, nói chuyện nghệ thuật với nghệ sĩ…
    Thời gian khai giảng :
  • Khóa1 khai giảng 03/6 – 03/7 (có thể đang ký ½ khóa) hoặc theo tuần)
  • Khóa 2 khai giảng 03/7- 30/7 (có thể đang ký ½ khóa) hoặc theo tuần)
    Lịch trại: Từ thứ 2 – sáng t7 hàng tuần – Đón trả trẻ từ 8h – 11h30 và 17h hàng ngày.
  • Đăng ký xe đưa đón: 1.500.000/ bốn tuần – 600.000/ tuần
  • Hãy liên hệ :0979662179 để nhận được bản thông tin chi tiết của lịch trại hè mỗi tuần.

Hạn đăng ký/ Registration deadline/등록 마감:

  • Khóa 1 trước 30/5, 19/06, 26/06
  • Khóa 2 trước 30/6, 10/07, 17/07, 24/07
    Lệ phí toàn khóa: 10.000.000/ bốn tuần
    Đăng ký theo tuần với mức phí 2.500.000 – 3.000.000 VNĐ
    Ưu đãi:
  • Đăng ký toàn khóa và nộp học phí trước 30/05 và 25/06: giảm còn 9.500.000 đ/khóa
  • Giảm 5% cho hai bé đăng ký cùng nhau.
  • Giảm 10% khi đăng ký khóa chuyên sâu tiếp theo sau trại hè.

Cách thức đăng ký: https://docs.google.com/forms/d/e/1FAIpQLSckkVpdmo0OxA004z-NnU5LHGRXCg1ciNEXSeD2YQzhmILRXw/viewform?usp=pp_url

Hè Này có gì hayhttps://greenart.edu.vn/he-nay-green-art-co-gi-hay/

Hotline 0979662179 hoặc trực tiếp tại số 38 ngõ 141 Nguyễn Khang, Yên Hòa, Cầu Giấy.

Trại Hè Lưu Trú Nghệ Thuật/Art Summer Camp/ 예술 여름 캠프
” Đẹp – Xấu trong nghệ thuật tạo hình” cùng họa sĩ Vũ Đình Tuấn
” Đẹp – Xấu trong nghệ thuật tạo hình” cùng họa sĩ Vũ Đình Tuấn


Quý phụ huynh và các bạn yêu nghệ thuật tạo hình thân mến!
Nhằm giúp mọi người khai mở phần nào về quan niệm thẩm mỹ trong nghệ thuật hội họa Green Art đã mời Họa sĩ Vũ Đình Tuấn Họa sĩ, GV ĐHMT Việt Nam tới Green Art trò chuyện với chủ đề ” Đẹp – Xấu trong nghệ thuật tạo hình”
– Trong buổi này nói chuyện này Họa sĩ Vũ Đình Tuấn sẽ đề cập tới những vấn đề sau: Đẹp – Xấu, Sến – Sú, Gu tồi – Gu tốt, Cái hay nhưng không đẹp, Cái đẹp nhưng không hay, Cái giá trị và không giá trị, Cái thích – Cái không thích….. Cái lỗi thời – Cái hợp mốt…. Nó đã là một xu hướng nghệ thuật hậu hiện đại! Nó có lịch sử và vị trí rõ ràng! Cái bạn thích Đó phải là một thứ thuộc về sến sẩm, sến sú, rởm đời, lố lăng, quá đà….hay bạn là người có Gu thẩm mỹ tốt….
– link đăng ký online : https://docs.google.com/…/1FAIpQLSepmIHA89LeX0…/viewform
– Thời gian 8h30 ngày 4/10/2020,
– Tại số 38 ngõ 141 Nguyễn Khang, Cầu Giấy
– Hotline – Zalo : 0947494720

” Đẹp – Xấu trong nghệ thuật tạo hình” cùng họa sĩ Vũ Đình Tuấn
“Tôi là Ai?”lần 1 Triển lãm tranh của lớp họa sĩ tự do Green Art
“Tôi là Ai?”lần 1 Triển lãm tranh của lớp họa sĩ tự do Green Art

Tôi là ai!” – triển lãm tranh nghệ thuật về hành trình tìm lại chính mình

Triển lãm tranh nghệ thuật “Tôi là ai!” diễn ra tại Trung tâm triển lãm tác phẩm Mỹ thuật, Nhiếp ảnh – 29 Hàng Bài, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội từ 10/5 – 14/5/2020.

“Tôi là ai” là hành trình tìm lại chính mình, tìm lại ước mơ, tình yêu, sở thích bị lãng quên, bị đè nén, bị khất hoài của các thành viên lớp họa sĩ tự do tại Green Art dưới sự hướng dẫn của họa sĩ Vũ Xuân Tình.

Triển lãm là câu chuyện nỗ lực không ngừng vượt lên chính mình để được thể hiện ước mơ cầm cọ, được sáng tạo, được tái tạo chính mình..Bởi ngoài đời mỗi thành viên với những cuộc sống riêng, công việc rất khác nhau nhưng họ có cùng một đam mê là được vẽ, được là mình.

Mỗi tác phẩm trong triển lãm là cái nhìn tham chiếu của mỗi người về chính bản thân là nơi tâm hồn bay bổng, nơi trút nỗi buồn, hay nội tâm giằng xé, một khoảnh khắc đẹp của bốn mùa và thậm trí là vấn một vấn đề xã hội mình quan tâm qua tranh đã được hiện ra. Hội họa với mỗi thành viên đã trở thành miền đất hứa cho họ kể câu chuyện cuộc sống, tình yêu hay nội tâm thầm kín.

“Tôi là ai” lần này với hơn 40 tác phẩm trên các chất liệu sơn dầu, màu nước, khắc gỗ chúng là những đứa con tinh thần đầu tiên trên hành trình tìm lại chính mình của những thành viên lớp họa sĩ tự do đem ra giới thiệu với công chúng, bạn bè và người thân.

Một số tác phẩm tại Triển lãm tranh nghệ thuật “Tôi là ai!”:

“Tôi là Ai?”lần 1 Triển lãm tranh của lớp họa sĩ tự do Green Art
Màu nước là gì?
Màu nước là gì?

Màu nước là gì?
Màu nước làm từ hạt sắc tố (pigment) nghiền mịn và chất kết dính gồm nước tinh chế và gôm Arabic. Gôm Arabic triết xuất từ 2 loài cây keo, nên còn gọi là gôm keo. Gôm Arabic kết dính hạt sắc tố với nền khi nước bốc hơi hết trong quá trình khô. Gôm arabic làm chậm chuyển động của màu khi wash, nhiều họa sĩ cho thêm gôm Arabic để dễ kiểm soát màu. Tính chất của màu nước phụ thuộc vào tính chất của hạt sắc tố và chất kết dính được dùng.Hạt sắc tố ultramarine tự nhiêngôm arabicBa đặc tính chính của màu nước:Độ trong/đụcVì màu nước thường vẽ ở trạng thái hòa tan, nên hiếm khi thấy màu nào đục hoàn toàn. Tuy nhiên, tất cả các pigment đều có độ trong/đục nhất định.Độ trong, đục chia làm 4 cấp độ:trong (transparent): Tbán trong (semi-transparent): STbán đục (semi-opaque): SOđục (opaque): OMàu trong: cho ánh sáng đi qua, cho phép màu giấy trắng hoặc phần underpainting bên dưới hiện ra. Có thể láng màu trong lên lớp màu khô bên dưới tạo hòa sắc đẹp.Màu đục: không cho ánh sáng đi qua, che phần màu bên dưới. Màu đục trông như lớp phấn khi khô. Tất cả màu cát-mi (cadmium) đều đục.Kiểm tra độ trong/đục. Vẽ 1 đường đen bằng bút marker lên giấy. Tô màu nước cắt ngang màu marker. Bên trái cadmium lemon đục, che một phần màu marker. Quinacridone gold bên phải màu trong nên nhìn rõ màu đen bên dưới.Không nên đánh đồng độ trong, đục với chất lượng màu và cho rằng màu trong tốt còn màu đục không tốt. Đục khi đó mang nghĩa không tinh khiết, bẩn. Màu trong, đục được sản xuất để tạo các hiệu quả thẩm mĩ khác nhau.Hãm màu (Staining)Hãm màu (staining) ký hiệu St, màu khó xóa hoặc không tẩy, rửa được sau khi vẽ.Không hãm màu (non-staining): hạt màu nằm lại trên mặt giấy, không lọt xuống sợi giấy nên khi khô, có thể làm ướt lại rồi lift đi.Các hạt sắc tố hiện đại và một số hạt sắc tố truyền thống cường độ mạnh như Prussian Blue (Lam Phổ) và Alizarin Crimson (hồng sẫm) có xu hướng hãm màu mạnh hơn những sắc tố truyền thống khác, vốn tẩy đi khá dễ dàng.Kiểm tra độ hãm màu. Vẽ màu lên giấy, để khô. Dùng bút lông ướt chùi màu. Winsor violet hãm màu, chùi còn 1 phần màu trên giấy. Green gold (bên phải) không hãm màu, có thể chùi gần hết màu để lộ ra giấy trắng.Kết hạt (Granulating)Granulating (Granulation) liên quan tới việc hạt sắc tố có xu hướng hình thành các chấm đậm màu – màu khô tạo bề mặt có hạt, do pigment nặng không thể nghiền mịn thành kích cỡ đồng nhất như những hạt khác.Ultramarine blue kết hạt. Quinacridone gold có hạt sắc tố nhỏ và trải đều trên mặt giấy, không kết hạt.Quy tắc chung là các hạt sắc tố truyền thống như màu đất, cô-ban và xanh viễn dương kết hạt, thì các hạt sắc tố hiện đại lại không. Kết hạt là đặc tính thú vị có nhiều họa sĩ ưa thích nên các hãng họa phẩm sản xuất dung dịch tăng khả năng kết hạt. Ví dụ dung dịch Granulation Medium của Winsor and Newton.Bất biến là gì? (Permanence)Một số màu không được xếp vào loại chịu sáng (lightfastness) – nghĩa là màu sẽ bạc nhanh nếu liên tục tiếp xúc với ánh sáng mặt trời.Vì không phải tất cả tranh màu nước đều đóng khung rồi treo lên tường nên có màu tuyệt đẹp mà độ chịu sáng kém vẫn được dùng. Ví dụ Opera Rose – một màu hồng sinh động mà họa sĩ vẽ thực vật yêu thích. Phần lớn họa sĩ thực vật cất tranh trong portfolios hoặc trong sách nên việc hạt sắc tố chịu sáng tốt hay không không đặc biệt quan trọng. Winsor & Newton và Sennelier vẫn sản xuất Opera Rose trong phổ màu.Màu Opera rose của Winsor and Newton, độ bất biến hạng B (kém).Nếu độ chịu sáng là đặc tính quan trọng với bạn và tác phẩm của bạn, hãy tham khảo colour chart (phổ màu) của hãng sản xuất để đảm bảo màu bạn mua không bạc nhanh chóng.Màu đơn sắc tố (single pigment) có gì tốt?Hạt sắc tố đơn sắc khi pha trộn tạo ra màu sáng và sinh động. Việc kết hợp quá nhiều hạt sắc tố cho màu trung gian “hue” xỉn và đục như bùn.Một số màu chỉ có thể sản xuất từ việc kết hợp 2 hoặc nhiều hạt sắc tố – như Quinacridone Gold (vàng Quinacridone) phải pha trộn từ nhiều hạt sắc tố do hạt sắc tố ban đầu đã không còn tồn tại. Permanent Alizarin Crimson (hồng sẫm bất biến) cũng phải trộn nhiều hạt sắc tố để tạo ra màu có độ chịu sáng tốt hơn thay thế cho màu đơn sắc tố truyền thống có độ chịu sáng kém.Với người mới bắt đầu vẽ màu nước, cố gắng tránh pha trộn nhiều hơn 2 hoặc 3 màu.Hạng màu nước chuyên nghiệp, dành cho họa sĩ sẽ có phổ màu rộng và có nhiều màu đơn sắc tố, như Sennelier l’Aquarelle, Winsor and Newton Professional Water Colour, Schmincke Horadam, Holbein Artists’ Watercolour, Daniel Smith Extra Fine Watercolour, Old Holland Classic Watercolours, Rembrandt Artists’ Quality Extra Fine Watercolours, vv…Hạng màu sinh viên có giá phải chăng bởi không được làm từ hạt sắc tố đắt tiền, và màu ‘hue’ (hỗn hợp của nhiều hạt sắc tố) được dùng thay thế cho các màu cat-mi và cô ban đắt tiền. Hạng màu sinh viên thích hợp với người mới bắt đầu, sinh viên và họa sĩ để tiết kiệm chi phí. Hạng màu sinh viên thường có độ bất biến thấp nhưng để biết thông tin chính xác bạn nên tham khảo colour chart của loại màu mình dùng. Màu sinh viên có thể pha trộn cùng hạng họa sĩ. Các màu sinh viên phổ biến là St. Petersburg White Nights Artists’ Watercolour, Winsor and Newton Cotman Watercolour, Van Gogh, Dr. Ph. Martin’s, và Reeves.Hạng màu: họa sĩ, sinh viên và scholarMàu chất lượng cao được gọi là màu chuyên nghiệp, có tỉ lệ pigment cao so với chất kết dính. Vì thế màu cường độ mạnh và khi vẽ cần lượng màu ít hơn. Màu sinh viên có nồng độ pigment thấp, có thể pha trộn nhưng cường độ yếu. Màu scholastic (scholar) chứa pigment rẻ tiền, phẩm nhuộm và chất kết dính nhân tạo, không hãm, dễ rửa trôi.Chất lượng của chất kết dính cũng ảnh hưởng tới chất lượng màu. Sennelier thêm mật ong vào chất kết dính vì tin rằng nó tối ưu độ bền màu, nhưng một số họa sĩ lại thích độ đậm đặc của màu không sử dụng mật ong.Hạt sắc tố trong màu hạng họa sĩ được nghiền mịn hơn và trộn với gôm Arabic. Theo thời gian tất cả các màu, bất kể hạng nào, đều xảy ra hiện tượng là pigment trong tuýp tách khỏi chất kết dính gôm arabic. Nếu hiện tượng này xảy ra chỉ cần khấy màu và gôm lẫn vào nhau.Cấu trúc hạt phân tử của hạt sắc tố ảnh hưởng tới kích cỡ hạt khi nghiền, cuối cùng ảnh hưởng tới khả năng kết hạt. Điều này không ảnh hưởng tới chất lượng màu. Tuy nhiên, nếu màu có xu hướng kết hạt khi đáng ra không phải, ví dụ như Neutral Tint, thì là do màu chất lượng kém và bất ổn.Dưới đây là bảng liệt kê một số nhãn hiệu màu nước. Hạng chuyên nghiệp trước, hạng sinh viên sau nhưng không xếp loại cụ thể về chất lượng.Bảng thống kê một số nhãn hiệu và dòng màu nước hạng chuyên nghiệp và hạng sinh viên.TÊN MÀU HẠNG MÀU PHỔ MÀU KÍCH CỠ ĐÁNH GIÁ GHI CHÚ
A. Hạng Artis
1. WINSOR AND NEWTON ARTIST’S WATER COLOUR Chuyên nghiệp 96 màuTuýp: 5ml, 14ml, nửa bánh, bánh đầy đủ Màu nước ẩm đầu tiên được sản xuất (từ 1832). Được đánh giá rất cao.75 màu đơn sắc tố. Chất kết dính là gôm Kodorfan.
2. JACKSON’S PROFESSIONAL WATERCOLOURS Chuyên nghiệp 49 tuýp 21ml, bánh đầy đủ màu vẽ chất lượng, giá phải chăng Mật ong thêm vào chất kết dính để màu bóng và dẻo hơn.
3. HOLBEIN ARTIST’S WATERCOLOUR Chuyên nghiệp108 tuýp 5ml, 15mlTexture mượt mịn, hoạt động rất tốt Sản xuất tại Nhật Bản, thiết kế theo phong cách hội họa Nhật và châu Âu. Không sử dụng ox-gall, phụ phẩm động vật hay chất gây phân tán.
4. SCHMINCKE HORADAM WATERCOLOUR Chuyên nghiệp110tuýp 5ml, 15ml, nửa bánh, bánh đầy đủ 69 màu đơn sắc tố. Sản xuất tại Đức. Màu bánh được rót ướt vào khay theo 4 lớp. Từng lớp được để khô trước khi rót lớp mới. Tối ưu hoạt động và độ bền cho màu. 1 bánh màu sx trong 3- 5 tháng.
5. DANIEL SMITH WATERCOLOUR Chuyên nghiệp 231tuýp 15ml Được nhiều họa sĩ coi là nhãn hiệu màu nước tốt nhất thế giới!
6. MAIMERI BLU ARTIST’S WATERCOLOUR Chuyên nghiệp72 tuýp 15ml, nửa bánhPhổ màu ít, gồm các màu có độ trong suốt và chịu sáng tốt nhất 52 màu đơn sắc tố.
7. SENNELIER L’AQUARELLE Chuyên nghiệp 98 tuýp 10ml, 21ml, nửa bánh, bánh đầy đủ Sản xuất theo phương pháp truyền thống từ hơn một thế kỷ. l’Aquarelle ban đầu được phát triển với đặc trưng của trường phái Ấn tượng Dùng mật ong và gôm Kodorfan.
8. OLD HOLLAND CLASSIC WATERCOLOURS Chuyên nghiệp168 tuýp 6ml, 18ml, nửa bánh cường độ màu đậm đặc, không hãng nào sánh kịp Sản xuất tại Hà Lan.
9. SHIN HAN ARTIST’S WATERCOLOUR Chuyên nghiệp 83 tuýp 15ml giá màu bắt đầu từ £4/tuýp, là mức giá tốt đối với màu hạng họa sĩ Sản xuất tại Hàn Quốc, được nghệ sĩ có kinh nghiệm đánh giá cao.
10. DALER ROWNEY ARTIST’S WATERCOLOUR Chuyên nghiệp 80 tuýp 5ml, 15ml, nửa bánh Mang tên thương hiệu nổi tiếng Daler Rowney!
11. BLOCKX WATERCOLOURChuyên nghiệp72tuýp 15ml, bánh khổ lớnhữu dụng khi vẽ tranh khổ lớn hay wash rộng dùng mật ong tăng độ bền màu.
12. REMBRANDT PROFESSIONAL WATERCOLOUR Chuyên nghiệp 80tuýp 5ml, nửa bánh Độ trong suốt tối đa, màu tinh khiết.
B. Hạng SV
13. LASCAUX SIRIUS PRIMARY WATERCOLOURS hạng Sinh viên785ml, chai nhựa bóp Phổ màu rất hạn chế, chỉ có 7 màu sơ cấp đơn sắc tố. Được phát triển để khuyến khích pha trộn màu. Màu hạn chế dễ kiểm soát và hòa sắc hài hòa hơn.Là cách thức tuyệt vời để khám phá lý thuyết về màu sắc.
14. ST. PETERSBURG WHITE NIGHTS WATERCOLOUR hạng Sinh viên54 bánh đầy đủ Chất lượng tốt so với giá tiền Nội quy về sản xuất không siết chặt, texture màu không đồng nhất. Là loại màu có cường độ tuyệt vời và có nhiều khách hàng trung thành.
15.DR. PH. MARTIN’S HYDRUS WATERCOLOUR hạng Sinh viên24 lọ kính 15ml, nắp có ống nhỏ giọt. Màu nước dạng lỏng. Thích hợp cho airbrush, thư pháp, bút máy Chất lượng tốt, độ chịu sáng tốt, thân thiện với người sử dụng. Được người thiết kế đồ họa và họa sĩ minh họa ưa thích. Cũng được dùng cho mỹ thuật.
16. DR. PH. MARTIN’S RADIANT WATERCOLOUR DYES hạng Sinh viên56 lọ kính 15ml, 60ml, có ống nhỏ giọt. Màu tươi tắn nhưng độ chịu sáng kém. Màu làm từ phẩm nhuộm, thiết kế ban đầu để tái sử dụng cho vẽ minh họaCó thể được sử dụng để trang trí vải bằng cách thêm muối và giấm hoặc natri cacbonat.
17. WINSOR AND NEWTON COTMAN WATERCOLOUR hạng Sinh viên40 tuýp 8ml, 21 ml, nửa bánh Winsor and Newton giảm giá bằng cách thay hạt sắc tố đắt tiền bằng màu pha trộn từ nhiều hạt sắc tố thay thế, hoặc giảm nồng độ pigment “xịn” trong tube màu. Là dòng màu được dùng phổ biến, màu đẹp, giá tốt.
18. REEVES WATERCOLOUR SETS hạng Sinh viên / Trẻ em. Bộ màu cơ bản truyền cảm hứng cho người trẻ muốn thử nghiệm. Là bộ quà tặng lý tưởng cho trẻ em.19. Van Gogh hạng Sinh viên 40Tuýp 10ml, bánhTất cả các màu có độ chịu sáng tối đa (ít nhất 100 năm theo điều kiện bảo tàng)Màu đậm, độ trơn mượt đồng đều. Dành cho sinh viên và họa sĩ thích thử nghiệm.
20. Kuretake Gansai Tambi Watercolor hạng Họa sĩ 36. Bộ 12, 18, 24, 36 Màu làm thủ công, khả năng blend tốt, màu mịn, độ đục cao hơn so với màu nước châu Âu và Mỹ. Dùng cho ký họa, minh họa, sumi-e, etegami. Được chứng nhận không độc hại. Bánh màu có kích cỡ khoảng 2″ × 1″.Quy cách: màu bánh, tuýp, thỏi và dạng lỏng.Màu nước đóng thành tuýp (tube), bánh (pan), thỏi (stick), và dạng lỏng (liquid).Loại bánh là màu nước khô. Khi vẽ dùng bút lông ướt lấy màu. Bánh màu tiện mang di chuyển. Có hãng sản xuất bánh màu lớn cho người vẽ tranh khổ rộng.Tuýp màu chứa màu ướt. Có thể bóp hết màu ra khay, palette, san thành các bộ màu nhỏ hoặc trộn trước một số màu rồi cho vào bánh. Tube cũng hợp với người muốn vẽ màu đậm đặc.Thỏi là màu nước khô, giống viên phấn. Có thể dùng như loại bánh (bút lông ướt lấy màu) hoặc dùng như công cụ drawing (cầm thỏi màu (ướt hoặc khô) vẽ thẳng lên giấy).Màu nước dạng thỏi, hạng chuyên nghiệp của Winsor and NewtonMàu nước lỏng (Liquid Watercolors) chứa pigment hoặc phẩm nhuộm (dyes) trong dung dịch nước. Màu dạng lỏng đặc biệt tươi tắn, trong suốt, thích hợp cho lớp wash mỏng và airbrush cũng như vẽ bằng bút lông thông thường. Nhiều màu dạng lỏng chóng phai (fugitive) nên thường được dùng vẽ minh họa.Dr.Ph.Martin’s Hydrus Fine Art Liquid watercolor
Nguồn:https://www.jacksonsart.com/a-guide-to-watercolour-paintin

Màu nước là gì?
CẤU TRÚC MẢNG TRONG HỘI HỌA

        Trong hội họa nói chung, bố cục được xem như là tổng thiết kế cấu tứ và sắp xếp các yếu tố thị giác. Bố cục bao hàm nhiều nhân tố đối lập cùng với những tác dụng tương hỗ, hình và nền, sáng và tối, mặt phẳng và hình khối, góc nhìn và dẫn hướng, động thái và tĩnh thái… Để có được một bố cục hợp lý, việc tổ chức sắp xếp các mảng chính phụ, mảng trống,… có ý nghĩa hết sức quan trọng. Trong khuôn khổ bài viết này tôi không có tham vọng bàn luận kỹ đến bố cục của tác phẩm mà chỉ nêu lên một số suy nghĩ về cấu trúc của mảng trong sáng tác hội họa.

1. Quan niệm về mảng

Trên mặt phẳng của một bức tranh, nếu để nguyên vẹn một màu trắng của giấy hay vải toan để vẽ thì ta có thể gọi đó là mảng trống. Nếu ta chấm lên đó một chấm thì có thể gọi đó là điểm. Nếu tiếp tục chấm nhiều điểm vào đó thì ta có thể gọi đó là một mảng được tập hợp bởi nhiều điểm. Tương tự như vậy, ta có một tập hợp là nét gồm một mảng được cấu thành bởi các nét.

Theo từ điển thuật ngữ mỹ thuật phổ thông, một lượng màu nào đó chiếm diện tích nhất định trên mặt tranh, tạo thành một mảng riêng, phân biệt rõ rệt với các mảng màu xung quanh nó… thì đó được gọi là mảng màu. Sự phân biệt này có thể do độ đậm nhạt, nóng lạnh của màu sắc hoặc về nội dung hình thể trong tranh. Khi nói đến mảng màu, người ta thường chỉ các mảng màu lớn. Tuy nhiên, trong các mảng màu lớn, có chứa đựng các mảng màu nhỏ hơn. Trong tranh đen trắng thì đó là những mảng màu mang các sắc độ khác nhau của đen và trắng.

Các nét, hình và điểm, khi được tổ chức, sắp xếp một cách có ý thức, sẽ tạo nên một hình hoặc một khối. Như vậy, trong một mảng có thể có một hoặc nhiều hình, tập hợp của các nét và điểm và ngược lại, hình hoặc khối có thể là tập hợp của một hoặc nhiều mảng. Qua các lập luận trên, có thể đưa ra một quan điểm riêng của tôi về mảng như sau: Mảng là sự cấu thành của một hoặc nhiều hình, khối, cùng sự tham gia của các tập hợp của điểm, đường nét tạo nên.

Một bức tranh được hình thành trên cơ sở của nhiều mảng tập hợp lại. Sự sắp xếp, tổ chức của các mảng, qua sự sáng tạo của họa sĩ, đã để lại cho nhân loại những kiệt tác với rất nhiều trường phái và phong cách khác nhau.

2. Quan hệ giữa mảng hình và nền

Trong tự nhiên, không tồn tại mối quan hệ giữa hình tượng và bối cảnh, giữa hình và nền. Khi thị giác con người tập trung vào một điểm, họ dễ dàng coi mọi thứ xung quanh là bối cảnh và môi trường. Chính vì vậy, các họa sĩ lợi dụng sự giới hạn của thị giác, làm điểm nổi rõ lên thành hình, những cái còn lại thì xử lý thành nền. Để khống chế phạm vi hoạt động của thị giác, bối cảnh của hội họa, về cơ bản, đều bị khoanh lại trong giới hạn. Một số nhà tâm lý học đã phân định hình và nền như sau:“Hình có tính nhô nổi, mật độ cao, có cảm giác đầy chặt, có hình dạng rõ ràng, có đường bao hoặc đường ranh giới… Nền có tính lùi lại sau, mật độ thấp, không có cảm giác đầy chặt, hình dạng tương đối rời rạc, không có đường ranh giới cố định”(1).

Khi độ đậm nhạt của hình và nền gần như nhau thì sự phân biệt là đường chu vi, nếu đường chu vi cũng không rõ lắm thì phải dựa vào tác dụng của tính ngưng tụ của hình (tâm lý học thị giác gọi hình có tính ngưng tụ là hình đóng kín). Do kinh nghiệm và tri thức thị giác của mỗi người ít, nhiều khác nhau, cho nên thời gian để nhận biết hình vẽ và kết quả không thể giống nhau, tính ngưng tụ sẽ là mấu chốt trong việc thức tỉnh tín hiệu được lưu trữ của người đó.

Tính ngưng tụ của hình thông thường có hai loại tình huống: dẫn dắt thị giác liên kết các hình rời rạc, phân tán thành đường chu vi, thành chỉnh thể của hình; dẫn dắt thị giác liên hệ những phần chủ chốt thành mảng để bổ sung thêm hình thể.

Nhìn chung, từ góc độ nghệ thuật, tính ngưng tụ chỉ là tính năng tất yếu có của hình tượng nghệ thuật bên cạnh tính thuyết minh và giá trị thẩm mỹ. Nhiều tác giả không theo đuổi việc diễn tả thực hình thể, nhưng nhấn mạnh được đặc trưng điển hình của nó, ngôn ngữ hội họa biểu đạt được tinh thần của hình thể thông qua việc sắp xếp, cấu thành tác phẩm nghệ thuật.

Tính ngưng tụ của hình trong hội họa còn thể hiện thông qua màu sắc, đường nét, độ đậm nhạt, diện tích mảng hình, chất liệu, mật độ của hình,… từ đó tạo nên tỷ trọng, sự nặng nhẹ của hình thể trong tranh. Nếu xử lý đúng lúc, đúng chỗ các yếu tố trên thì các mảng hình sẽ ăn nhập hài hòa với phần nền và mang lại tính thẩm mỹ cao cho tác phẩm.

3. Cấu trúc mảng

Bất kỳ một tác phẩm nào muốn được làm rõ nội dung, chủ đề mà tác giả cần diễn đạt thì việc cần thể hiện là phần chính và phần phụ. Phần chính cần phải là phần trọng tâm và điển hình, phần phụ là phần hỗ trợ để phần chính thêm phong phú hơn và nổi bật trọng tâm hơn. Vì vậy, phần chính không thể quá lấn át phần phụ, và ngược lại, phần phụ cũng không được quá nổi bật mà làm mất đi trọng tâm (tức là lấn át phần chính). Các mảng chính, mảng phụ cần phải được phân biệt rõ ràng và có sự liên kết có tổ chức rõ rệt từ các mảng lớn, các mảng nhỏ, phần hình và khoảng trống, kết hợp với các mảng màu, các sắc độ, sự phân bố sáng tối, đặc biệt là hệ thống các mảng cho phù hợp với nội dung và cảm xúc của tác giả. Muốn để phần chính và phần phụ ăn nhập với nhau và mang lại hiệu quả thẩm mỹ, việc cân bằng thị giác là yếu tố quyết định.

Cân bằng thị giác

Sự cân bằng thị giác được tạo ra nhờ việc sắp xếp các hình thể mà mắt thường nhìn thấy được trên bề mặt của diện tích bố cục một cách hài hòa, hợp lý và ổn định; phải khái quát được diện tích đó, dù to hay nhỏ, như một tổng thể. Cũng vì thế, sự cân bằng thị giác còn được nhìn nhận như là sự cân bằng về trọng lượng. Một bố cục chỉ làm ta thỏa mãn khi các lực của nó được sắp xếp hợp lý. Bởi vì khi quan sát một hình thể, bao giờ chúng ta cũng phải xác định hình đó với không gian xung quanh, nói cách khác, đó là sự so sánh, liên hệ với không gian ấy để đo được các khối hình hai phía. Để cân bằng thị giác trong tranh, cần các yếu tố sau: thứ nhất, hình thể có trọng lượng lớn có thể cân bằng một hình nhỏ nhưng có đòn bẩy dài hơn, hay một hình có diện tích lớn hơn nhưng sắc độ mờ nhạt hơn so với nền thì cũng bằng một diện tích nhỏ hơn nhưng có độ đậm nhạt nổi hơn nó (tương quan hình – nền). Thứ hai, độ tương phản mạnh so với nền và xung quanh, tạo ra cảm giác nặng, nhẹ (2).

 Sau khi đã đạt được sự cân bằng về thị giác thì sức căng của bố cục cũng là vấn đề cần phải chú ý. Số lượng và chất lượng của hình và nền, với tỷ lệ to nhỏ, tương quan sáng tối, có ảnh hưởng rất lớn với vùng trống xung quanh và tạo sức căng cho toàn bộ kích thước bức tranh. Sắp đặt hình thể trong không gian sao cho bản thân chúng có mối tương quan mật thiết và hài hòa từ trung tâm đến các khu vực xung quanh. Đặc biệt lưu ý đến độ nhấn và khoảng trống đó là đối trọng giữa đầy và vơi, có ý nghĩa quyết định của một bố cục

Tổ chức sắp xếp mảng

Việc sắp xếp, tổ chức các mảng, hình, khối, độ đậm nhạt, đường nét,… có một ý nghĩa vô cùng quan trọng để nhấn mạnh trọng tâm và ý đồ thể hiện của tác giả với nội dung cần truyền đạt. Sắp xếp các mảng chính phụ hài hòa là việc làm đầu tiên của họa sĩ.

Nói đến mảng chính (mảng trọng tâm) tức là nói đến mảng lớn chứa đựng các mảng nhỏ hơn, trong đó có thể có các hình thể, hình khối. Các mảng, khối … được hình thành trên tổ hợp của các nét và của các điểm khác nhau. Tuy nhiên, các mảng đó phải tạo nên sự thống nhất, đồng bộ trong tổng thể bức tranh.

Sự thống nhất thể hiện ở các hình ở mảng chính rất cần tạo nên sự chặt chẽ về bố cục, sự sáng tạo trong cách tổ chức sắp xếp trong toàn mảng. Sự tổ chức sắp xếp bao gồm các mảng hình, các mảng đậm nhạt, sáng tối, các mảng đặc, khoảng trống, sự vận động của các hình, khối trong không gian, mật độ của các hệ thống nét và điểm, đặc biệt là chất của các mảng trong tổ chức của toàn hệ thống đó.

Trước khi sắp xếp, tổ chức các mảng lên mặt phẳng tranh, thông thường họa sĩ phải xác định mình vẽ trên khung hình loại gì, hình chữ nhật đứng hay nằm ngang, hình vuông hay hình tròn… Bên cạnh đó, anh ta cũng cần phải xác định mình sẽ vẽ tranh theo thể loại thấu thị gì để có phương án bố cục mảng cho hợp lý. Khi tổ chức sắp xếp mảng, rất cần chú ý đến các yếu tố sau:

Trước tiên là yếu tố cân đối. Tính cân đối được thể hiện bởi sự cân đối trong các mảng, hình khối, cân đối về đậm nhạt, về đường nét, về chất. Sự cân đối ở đây là sự tổ chức sắp xếp hợp lý về tỷ lệ giữa mảng chính với mảng phụ, giữa các khoảng trống, giữa các hình trong các mảng, giữa hình với hình, về tỷ lệ và cấu trúc của mảng sao cho thuận mắt. Phân bố độ đậm nhạt, màu sắc trong tranh cho nổi bật được nội dung cần diễn tả, đặc biệt là phải có sự liên kết hài hòa trong hệ thống sáng tối của bức tranh. Tổ chức hệ thống nét, hệ thống các điểm trong mảng cho phù hợp với tổng thể.

Tính cân đối về mảng được tổ chức sắp xếp bởi tỷ lệ các mảng chính với mảng phụ, với khoảng trống. Mảng chính cần có tỷ lệ vừa đủ để diễn tả về nội dung, không được to hay nhỏ quá và đặc biệt là phải đặt đúng vị trí sao cho hợp lý, hài hòa về bố cục.

Thứ hai là yếu tố tương phản, nói cách khác là sự đối lập. Trong hội họa, sự đối lập thường được thể hiện ở tỷ lệ giữa mảng chính và mảng phụ, giữa mảng với mảng, mảng với hình, giữa hình với hình, hình với nền, ở độ đậm nhạt, giữa mảng chính và phụ, với khoảng trống. Bên cạnh đó có thể còn có sự thay đổi, đối lập về phong cách tạo hình, tính cách nhân vật, về hình dáng các mảng, hình với nhau. Mảng hình cứng với mảng hình mềm, mảng chuyển động, mảng tĩnh,… Các mảng màu, độ nóng lạnh, về chất trong các mảng sẽ tạo nên tính tương phản trong tranh.

Sự đối lập để tạo nên sự chú ý hay nhấn mạnh trọng tâm sẽ là yếu tố rất quan trọng trong việc sắp xếp cấu trúc cho các mảng, tạo nên sự hài hòa trong tác phẩm. Tất cả sự đối lập trên khi được tổ chức sắp xếp hợp lý trong hệ thống của bức tranh sẽ tạo nên sự cân đối trong tranh và đặc biệt sẽ tạo nên bản sắc cũng như sự sáng tạo của người họa sĩ.

Thứ ba là yếu tố liên tục. Sự liên tục trong tranh là cần thiết, đây là cầu nối cho các mảng, các độ đậm nhạt, về đường nét, điểm trong tranh tạo nên sự liên kết vững chắc cho cấu trúc của mảng, tạo nên nhịp điệu của các mảng, sự vận động của khí trong tranh.

Thứ tư là yếu tố nhịp điệuSự thay đổi về tỷ lệ giữa các mảng, về hướng, về nét cứng, mềm, về tính chất tĩnh, động của các mảng sẽ tạo nên nhịp điệu. Sự phân bố về đậm nhạt, về tổ chức sắp xếp đường nét, điểm trong các mảng một cách hợp lý sẽ tạo nên cấu trúc mảng vững chắc và có những nhịp điệu trong hệ thống các mảng trong mặt phẳng tranh.Quan hệ giữa hình với hình, giữa hình với nền, quan hệ của hình với mảng, giữa mảng với mảng, giữa phần chính và phần phụ, quan hệ về tương quan, về sáng tối, về đậm nhạt,… được dựa trên các tính năng của từng loại khối và sự vận động của các hình, khối. Tiếp đó là sự liên kết giữa các khối và khoảng trống, sự kết hợp giữa các hình (vuông, tròn, tam giác) với nền. Cho nên việc sắp xếp, tổ chức các mảng nhỏ trong mảng chính cùng với bố trí đậm nhạt trong mảng chính và các mảng phụ cùng khoảng trống sẽ tạo nên tính nhịp điệu cho bức tranh.

Trong bố cục, yếu tố chính phụ luôn song hành với nhau. Mảng chính là phần trọng tâm để nhấn mạnh nội dung và chủ đề của tác phẩm nhưng mảng chính không hoàn chỉnh, có khi còn khô cứng, nếu không có sự bổ trợ của mảng phụ. Mảng phụ có thể là những mảng hình nhỏ hơn về diện tích đồng thời lực ngưng tụ ít hơn mảng chính, sắc độ cũng không rõ nét và ít sự biểu hiện hơn. Mảng phụ cũng có thể là các khoảng trống. Những khoảng trống này thực sự có tiếng nói trong tổng thể của một bức tranh. Một mảng phụ đẹp phải là một mảng phụ có tính liên kết và hỗ trợ với các mảng khác, đặc biệt là mảng chính. Sự cân đối của bức tranh khi và chỉ khi các mảng chính phụ cân đối với nhau về diện tích, về sắc độ, về đường nét, về chất, đặc biệt cần phải cân đối về sự ngưng tụ của hình thể được diễn tả trong tranh. Sự hỗ trợ của mảng phụ sẽ làm cho bức tranh rõ hơn về phần nội dung và làm cho tác phẩm hài hòa và ấn tượng.

Trong tác phẩm hội họa, những khoảng trống và cấu trúc của khoảng trống hết sức đa dạng. Những khoảng trống, hay gọi cách khác là không gian bao quanh chủ thể chính, là tập hợp các yếu tố phụ hoặc yếu tố giai thoại – có thể có một giá trị biểu cảm lớn hơn cả khoảng đặc (những yếu tố nhìn thấy, những hình thể hiện hữu). Thậm chí, những khoảng trống này cho ta một ý nghĩa sâu thẳm của bức tranh. Tuy nhiên, tất cả phụ thuộc vào vị trí mà những khoảng trống chiếm lĩnh trong khuôn hình và việc kết hợp khéo léo với các mảng hình trong tác phẩm.

Cấu trúc của các mảng cùng các hình tượng được đưa vào trong tác phẩm cần đơn giản và tinh luyện. Sự tổ chức, sắp xếp đó không những từng nét phải tinh tế, cẩn thận mà còn rất cần đến tạo hình biểu đạt chuẩn xác, sinh động. Sự sắp xếp, bố trí mảng rất cần đến sự phong phú song không rườm rà mà tinh giản, biểu đạt được nội dung thiết thực, thông qua các hình tượng điển hình. Khả năng thể hiện của nghệ thuật đối với thế giới mênh mông này là có hạn. Các nhà mỹ học cho rằng lấy một làm mười, chọn dùng những hình tượng hữu hạn để biểu hiện nội dung vô hạn, lời nói có tận cùng mà ý không tận cùng mới là cái đẹp nghệ thuật.

_______________

1. Vương Hoằng Lực, Nguyên lý hội họa đen trắng, Nxb Mỹ thuật, Hà Nội, 2007, tr.44.

            2. Lê Huy Văn, Trần Tư Thành, Cơ sở tạo hình, Nxb Mỹ thuật, 2006, tr.31.

Nguồn : Tạp chí VHNT

Tác giả : Trần Thanh Liêm

Những khái niệm căn bản của nghệ thuật thị giác đương đại

POSTED ON 24 THÁNG TƯ, 2019 BY MỸ THUẬT VIỆT NAM TẠP CHÍ24
Th4

Lời dẫn:

Cuối thế kỷ 20, chủ nghĩa hậu hiện đại (postmodernism) đã ảnh hưởng bao trùm lên tư tưởng sáng tạo của rất nhiều nghệ sĩ đương đại. Sự ra đời của hàng loạt các khái niệm mới: Anti-art (phản nghệ thuật ); Outsider art (nghệ thuật Bên ngoài);  Neo-DaDa (Tân DaDa); Conceptual art (nghệ thuật Khái niệm);  Psychedelic art (nghệ thuật Ảo giác ); Pop art (nghệ thuật Bình dân); Visionary art (nghệ thuật Hư ảo); Fluxus art (nghệ thuật Dòng chảy); Interactive art (nghệ thuật Tương tác); Assemblage art (nghệ thuật kết hợp); Postminialism art (nghệ thuật Hậu tối giản); Land art (nghệ thuật Miền đất); Installation art (nghệ thuật Sắp đặt); Lowbrow art (nghệ thuật Ít học); Graffiti art (nghệ thuật tranh trên tường đường phố);  Digital art (nghệ thuật Kỹ thuật số); Telematic art (nghệ thuật viễn thông); Performance art (nghệ thuật Trình diễn); Video art  (nghệ thuật Video); Neo-expressionism (nghệ thuật Tân biểu hiện); Appropriation art (nghệ thuật Chiếm hữu); Neo-Conceptual art (nghệ thuật Tân khái niệm ); ASCII art (nghệ thuật thiết kế đồ họa có sử dụng máy tính); Pevement art (nghệ thuật vẽ trên vỉa hè ); Plop art (nghệ thuật công cộng ); Live art (nghệ thuật Sống); Internet art (Nghệ thuật internet)… được gọi là các trào lưu của nghệ thuật hậu hiện đại (postmodermism art) và cũng được gọi chung là: nghệ thuật đương đại (bởi những trường phái trên thuộc về lĩnh vực mỹ thuật nên ta có thể gọi chính xác hơn là nghệ thuật thị giác đương đại) đã tạo nên những làn sóng mới trong thế giới nghệ thuật ở giữa và cuối thế kỷ 20…

Qua lịch sử sự hình thành các quan niệm của xu hướng thẩm mỹ  và những trải nghiệm của chính người nghệ sĩ, chúng ta có thể nhận thấy rằng:

Tiến trình đi đến cái đẹp là đa hướng – đa phương tiện – vô tận – không có điểm dừng kết thúc.

Ở đâu người nghệ sĩ được tự do phơi lộ trần trụi tâm trạng trình diễn những cảm xúc suy tư hoang vu dữ dội mãnh liệt nhất trong sâu thẳm nội tâm, trong bản ngã vô thức, ở đó là thiên đàng của cái đẹp mơ mộng, hoành tráng nhất, nghệ thuật được sáng tạo mãnh liệt nhất.

Tâm hồn trí tuệ thưởng ngoạn nghệ thuật luôn có nhu cầu tự do “nổi loạn cảm xúc và nhận thức” để có được sự thay đổi quan niệm về thẩm mỹ.

Cái đẹp luôn gào thét trong câm lặng mời gọi hồn thi nhân nghệ sĩ.

Lạc thú thị giác có thể xúc tác làm thăng hoa biến đổi tâm hồn trí tuệ.

Tác phẩm chính là dấu vết tâm hồn linh hồn của người nghệ sĩ.

Mỗi xu hướng mỗi kiệt tác nghệ thuật đều có triết lý riêng của nó.

Trình độ tâm hồn trí tuệ thẩm mỹ của một dân tộc được biểu lộ qua thi ca, âm nhạc, nghệ thuật, triết học và khoa học.

Thần sắc bí ẩn của cái đẹp được phát lộ bởi con mắt của bậc thầy có tuệ nhãn siêu việt.

Ba cái huyền diệu bí truyền của năng lượng thụ cảm cái đẹp: “Diệu tâm – Diệu trí –  Diệu mỹ”.

Vẻ đẹp thiên nhiên là ngôn lời hùng biện của Thượng đế, vẻ đẹp nghệ thuật là ngôn lời hùng biện của nghệ sĩ.

Trong màn đêm tĩnh lặng, nội tâm ta có thể thụ cảm được vẻ đẹp của cõi hư không.

Phát hiện ra bí ẩn của những cái đẹp của nghệ thuật là sự xuất thần của năng lượng trực giác, nhiều hơn là sự công phu khổ luyện.

Kỹ năng tuyệt hảo đòi hỏi công phu khổ luyện, khả năng thụ cảm thẩm mỹ là sự xuất thần bí ẩn của năng lượng trực giác

Nghệ thuật thị giác đương đại luôn có xu hướng sáng tạo: “Những hình thể phi lý vô trật tự gây ảo ảnh rối loạn thị giác”.

Danh họa Dalí viết: “Tự do là vô hình thể – một bông hồng sẽ là nhà tù”.

Một thi nhân danh tiếng viết: “Nghệ sĩ nhìn cái đẹp như chàng trai ngắm nhìn người tình”.

Dưới đây là một số những tư liệu do Museum TATE (Bảo tàng TATE Anh Quốc) biên soạn ghi chú một cách ngắn gọn súc tích, phát hành cung cấp thêm cho các nghệ sĩ tham khảo để có một cái nhìn tối thiểu tổng thể về các xu hướng của nghệ thuật thị giác đương đại.

CHỦ NGHĨA HẬU HIỆN ĐẠI (POSTMODERNISM)

Trong nghệ thuật, chủ nghĩa hậu hiện đại đặc biệt là một phản ứng chống lại chủ nghĩa hiện đại đã thống trị lý thuyết và thực tiễn nghệ thuật từ đầu thế kỷ XX. Thuật ngữ “Chủ nghĩa hậu hiện đại” (Postmodernism) cũng được sử dụng rộng rãi để mô tả các thách thức và thay đổi đối với các cấu trúc và hệ thống tín ngưỡng đã được hình thành trong xã hội và văn hoá phương Tây từ những năm 60 trở đi.

Thuật ngữ này được sử dụng lần đầu tiên vào khoảng năm 1970. Theo một phong trào nghệ thuật hậu hiện đại, một mức độ nào đó thách thức định nghĩa, vì không có một phong cách hậu hiện đại hay lý thuyết mà nó có thể được gắn bản lề. Nó bao gồm nhiều cách tiếp cận khác nhau đối với việc tạo ra nghệ thuật  và có thể bắt đầu bằng nghệ thuật POP vào những năm 1960 và bao gồm nhiều thứ như nghệ thuật Khái niệm, nghệ thuật  Tân biểu hiện, nghệ thuật Nữ quyền và của những nghệ sĩ trẻ của những năm 1990.

CHỦ NGHĨA HIỆN ĐẠI VÀ CHỦ NGHĨA HẬU HIỆN ĐẠI

Chủ nghĩa hậu hiện đại là một phản ứng chống lại chủ nghĩa hiện đại. Chủ nghĩa hiện đại nói chung dựa trên chủ nghĩa duy tâm và một tầm nhìn không tưởng về cuộc sống và xã hội của con người và niềm tin vào sự tiến bộ. Nó giả định rằng một số nguyên lý phổ quát tối đa hoặc các sự thật như những gì được hình thành bởi tôn giáo hoặc khoa học có thể được sử dụng để hiểu hoặc giải thích thực tại.

Các nghệ sỹ hiện đại đã thử nghiệm hình thức, kỹ thuật và các quá trình hơn là tập trung vào các chủ đề, họ tin rằng có thể tìm ra một cách để phản ánh hoàn toàn thế giới hiện đại.

Trong khi chủ nghĩa hiện đại dựa trên chủ nghĩa lý tưởng và lý trí, chủ nghĩa hậu hiện đại đã sinh ra do chủ nghĩa hoài nghi và sự nghi ngờ về lý trí. Nó thách thức quan niệm rằng có những điều chắc chắn hoặc là sự thật. Nghệ thuật hậu hiện đại đã dựa trên triết học từ giữa đến cuối thế kỷ XX, ủng hộ những trải nghiệm cá nhân và giải thích những kinh nghiệm của cái tôi là cụ thể hơn các nguyên tắc trừu tượng. Trong khi các nhà hiện đại đã cố gắng cổ vũ cho sự rõ ràng và sự đơn giản, chủ nghĩa hậu hiện đại đã chấp nhận các lớp hình thức phức tạp và thường mâu thuẫn về ý nghĩa.

Chống độc quyền của tạo hóa, chủ nghĩa hậu hiện đại đã từ chối thừa nhận quyền  uy  của bất  kỳ một phong cách trường phái đơn lẻ nào hoặc có thể định nghĩa lại nghệ thuật nên là như thế nào. Nó phá bỏ sự khác biệt giữa văn hóa cao với văn hóa quần chúng hoặc với văn hóa phổ biến giữa nghệ thuật và cuộc sống hàng ngày. Bởi chủ nghĩa hậu hiện đại đã phá vỡ các quy tắc đã được thiết lập về phong cách trường phái, nó đã giới thiệu một kỷ nguyên mới của tự do và ý thức rằng “mọi cái đều trôi đi”. Thường thì sự vui nhộn, giễu nhại hoặc đôi khi có thể là lố bịch; nó có thể bị đối đầu và được gây tranh cãi, nó thách thức ranh giới của các hình thái nghệ thuật. Nhưng điều quan trọng nhất, nó phản ảnh sự tự nhận thức về phong cách của chính nó. Nghệ thuật hậu hiện đại có thể tự ý thức vay mượn hoặc mỉa mai nhận xét bình luận trong một phạm vi nào đó về một loạt các phong cách trong quá khứ và thường pha trộn các phong cách trường phái, các phương tiện truyền thông và của những nghệ thuật khác nhau.

PHẢN NGHỆ THUẬT (ANTI-ART)

Phản nghệ thuật là thuật ngữ được sử dụng để mô tả nghệ thuật thách thức các định nghĩa hiện có của nghệ thuật.

Thuật ngữ “Phản nghệ thuật” đã được đặt ra bởi Marcel Duchamp vào khoảng năm 1913 khi ông làm readymades (đồ vật được sản xuất làm sẵn) đầu tiên của ông – điều đó đã gây được  sự chú ý trong một sự hiếm có như là phản nghệ thuật. Năm 1917, Duchamp đã gửi một chiếc chậu đi tiểu có tên là Fountain (Đài phun nước) cho một cuộc triển lãm ở New York, sau đó trở nên nổi tiếng và cuối cùng có ảnh hưởng lớn. Phản nghệ thuật có liên quan đến dada – một phong trào nghệ thuật và văn học được thành lập ở Zurich vào năm 1916 và đồng thời ở New York – trong đó Duchamp là một nhân vật trung tâm. Giới nghệ thuật đã có sự chuyển biến ảnh hưởng và chấp nhận “Phản nghệ thuật” như là một trò chơi chữ của Duchamp.

MARCEL DUCHAMP – Đài phun nước. 1917

NGHỆ THUẬT ĐẠI CHÚNG (POP ART)

POP ART  là một phong trào nghệ thuật nổi lên trong những năm 1950 và phát triển mạnh trong những năm 1960 ở Mỹ và Anh, lấy cảm hứng từ các nguồn văn hóa phổ biến và thương mại. Các nền văn hoá và quốc gia khác nhau đã góp phần vào phong trào trong những năm 1960 và 70.

Xuất hiện vào giữa những năm 1950 ở Anh và cuối những năm 1950 ở Mỹ, nghệ thuật pop đạt đến đỉnh điểm vào những năm 1960. Nó bắt đầu như là một cuộc nổi dậy chống lại các phương pháp chủ đạo đối với nghệ thuật và văn hoá và các quan điểm truyền thống về nghệ thuật nên là gì. Các nghệ sỹ trẻ cảm thấy rằng những gì họ được dạy ở trường nghệ thuật và những gì họ thấy trong các viện bảo tàng không có liên quan gì đến cuộc sống của họ hoặc những gì họ nhìn thấy xung quanh họ mỗi ngày. Thay vào đó, họ chuyển sang các nguồn khác như phim Hollywood, quảng cáo, bao bì sản phẩm, nhạc pop và sách truyện tranh cho hình ảnh của họ tạo dựng nên.

Nó làm cho những ngôi nhà ngày hôm nay khác biệt – bởi vậy hấp dẫn. (1956). Là một trong những tác phẩm đầu tiên được coi là “nghệ thuật pop”. Sự cắt dán của Richard Hamilton.

Năm 1957, nghệ sĩ nhạc pop Richard Hamilton đã liệt kê các “đặc tính của nghệ thuật pop” trong một lá thư cho bạn bè của ông – kiến trúc sư Peter và Alison Smithson:

“Pop Art là: Phổ biến (được thiết kế dành cho khán giả đại chúng) – Thoáng qua (Giải pháp ngắn hạn), Chi phí phải chăng (dễ lãng quên) – Chi phí thấp –  Sản xuất đại trà – Trẻ trung (nhằm vào tuổi trẻ) – Hạnh phúc – Sexy –  Quyến rũ – Phô trương –  Kinh doanh lớn.”

Các nhà phê bình hiện đại đã bị làm kinh hoàng bởi việc các nghệ sĩ nhạc pop sử dụng chủ đề bình thường như  vậy và bằng cách xử lý nó một cách không phê phán. Trong thực tế, nghệ thuật pop đã rơi vào các lĩnh vực mới của chủ đề và phát triển những cách mới trình bày nó trong nghệ thuật và có thể được xem như là một trong những biểu hiện đầu tiên của chủ nghĩa hậu hiện đại .

POP MỸ ĐỐI NGHỊCH VỚI POP ANH

Mặc dù họ đã được truyền cảm hứng bởi các chủ đề tương tự – pop Anh thường được xem là đặc biệt từ pop Mỹ.

Nghệ thuật pop ở Anh đã được thúc đẩy bởi nền văn hoá phổ biến –  ở Mỹ được nhìn từ xa – trong khi các nghệ sỹ Mỹ được lấy cảm hứng từ những gì họ nhìn thấy và trải nghiệm sống trong nền văn hoá đó.

Ở Hoa Kỳ, phong cách pop là sự trở lại của nghệ thuật biểu diễn (nghệ thuật miêu tả thế giới thị giác theo một cách dễ nhận thấy) và việc sử dụng các cạnh thô cứng và các hình dạng khác biệt sau sự lỏng lẻo xô lệch của chủ nghĩa biểu hiện trừu tượng. Bằng cách sử dụng hình ảnh phi nhân tạo, phi thường, các nghệ sĩ nhạc pop cũng muốn tránh xa sự nhấn mạnh vào cảm xúc cá nhân và biểu tượng cá nhân mang đặc trưng của chủ nghĩa biểu hiện trừu tượng.

Ở Anh, phong trào nghệ thuật mang tính học thuật hơn trong cách tiếp cận của nó. Trong khi sử dụng sự mỉa mai và sự nhại lại, nó tập trung nhiều hơn vào những gì mà hình ảnh phổ biến ở Mỹ đại diện và sức mạnh của nó trong việc vận dụng lối sống của người dân. Nhóm nghệ thuật thập niên 1950 Nhóm độc lập (IG) được coi là tiền thân của phong trào nghệ thuật Pop của Anh.

NGHỆ THUẬT SẮP ĐẶT (INSTALLATION ART)

Thuật ngữ nghệ thuật sắp đặt được sử dụng để mô tả các công trình có quy mô lớn – đa phương tiện – thường được thiết kế cho một địa điểm cụ thể hoặc trong một khoảng thời gian tạm thời .

Các tác phẩm nghệ thuật sắp đặt (đôi khi được mô tả là ‘môi trường’) thường chiếm toàn bộ không gian hoặc không gian phòng trưng bày mà khán giả phải đi qua để có thể tham gia đầy đủ vào công việc nghệ thuật. Tuy nhiên, một số thiết bị được thiết kế đơn giản chỉ để đi bộ và suy ngẫm hoặc rất mong manh mà chỉ có thể nhìn từ cửa ra vào hoặc ở cuối phòng. Điều làm cho nghệ thuật sắp đặt khác với tác phẩm điêu khắc hoặc các hình thức nghệ thuật truyền thống khác là  nó là một trải nghiệm thống nhất hoàn hảo chứ không phải là trưng bày các tác phẩm nghệ thuật riêng lẻ. Việc tập trung vào việc khán giả trải nghiệm công việc như thế nào và mong muốn mang lại trải nghiệm mãnh liệt cho họ là một chủ đề nổi bật trong nghệ thuật sắp đặt. Như nghệ sĩ Ilya Kabakov nói: “Diễn viên chính trong tổng số sắp đặt – trung tâm chính mà mọi thứ được giải quyết – với mọi thứ đều là người xem.”

Nghệ thuật sắp đặt nổi lên từ môi trường mà các nghệ sĩ như Allan Kaprow thực hiện từ năm 1957 trở đi mặc dù có những tiền thân quan trọng như Merzbau 1933  của Kurt Schwitters là môi trường của một số phòng được tạo ra trong ngôi nhà của họa sĩ ở Hanover. Trong một cuộc phỏng vấn không công bố xuất bản năm 1965, Allan Kaprow nói về môi trường đầu tiên của ông: “Tôi chỉ đơn giản là lấp đầy toàn bộ bộ sưu tập… Khi bạn mở cửa – bạn thấy mình đang ở giữa toàn bộ môi trường… Các vật liệu đã được thay đổi: các tấm nhựa – những tờ giấy lộn xộn – các miếng bọt Scotch – những vết rạch nham nhở – những miếng vải màu… 5 máy ghi âm đặt xung quanh phòng truyền đi âm nhạc điện tử mà tôi đã sáng tác vang lên khắp không gian”.

Từ những năm 1960 việc tạo ra các thiết bị sắp đặt đã trở thành một mảng chính trong nghệ thuật hiện đại. Điều này càng ngày càng trở nên rõ ràng từ đầu những năm 1990 khi sự sụp đổ của thị trường nghệ thuật vào cuối những năm 1980 đã dẫn tới việc làm sáng tỏ sự quan tâm đến nghệ thuật khái niệm (nghệ thuật tập trung vào các ý tưởng hơn là đối tượng). Các vật liệu khác (hỗn hợp) – ánh sáng và âm thanh vẫn là nền tảng của nghệ thuật sắp đặt.

NGHỆ THUẬT TRÌNH DIỄN (PERFORMANCE ART)

Tác phẩm nghệ thuật được tạo ra thông qua các hành động được thực hiện bởi nghệ sĩ hoặc những người tham gia khác có thể là trực tiếp hoặc được ghi lại tự phát hoặc có kịch bản.

Mặc dù thuật ngữ “trình diễn” và “nghệ thuật trình diễn” chỉ trở nên phổ biến trong những năm 70, lịch sử biểu diễn trong nghệ thuật thị giác thường được bắt nguồn từ những sản phẩm mang tính vị lai và dada – cabarets (cabarets là trò múa hát vui trong các quán rượu hay hộp đêm ở Mỹ vào những năm 1910.)

Trong suốt thế kỷ 20, màn trình diễn thường được coi như là một cách làm nghệ thuật phi truyền thống. Cuộc sống, phong trào vật chất và sự vô thường đã cung cấp cho các nghệ sĩ sự lựa chọn thay thế cho sự tĩnh lặng bất động  của các bức tranh và điêu khắc.

Trong giai đoạn hậu chiến tranh đã trở nên phù hợp với nghệ thuật khái niệm vì bản chất thường không quan trọng.

Bây giờ là một phần được chấp nhận của thế giới nghệ thuật thị giác, thuật ngữ này đã từng được sử dụng để mô tả các tác phẩm nghệ thuật bằng phim ảnh, video, nhiếp ảnh và sắp đặt thông qua đó là các hành động của nghệ sĩ – người biểu diễn hoặc khán giả được truyền tải.

Gần đây hơn, Perormance art được hiểu như là một cách trực tiếp được gắn liền với thực tế xã hội – những chi tiết về không gian và bản sắc của chính trị. Nó như là một phương tiện hơn là một tác phẩm nghệ thuật thuần túy để có thể tạo ra một tập hợp các câu hỏi và mối quan tâm về nghệ thuật liên quan đến con người và thế giới xã hội rộng lớn hơn.

NGHỆ THUẬT KỸ THUẬT SỐ (DIGITAL ART)

Nghệ thuật kỹ thuật số là thuật ngữ được sử dụng để mô tả nghệ thuật được tạo ra hoặc trình bày bằng cách sử dụng công nghệ kỹ thuật số.

Việc sử dụng thuật ngữ kỹ thuật số đầu tiên là vào đầu những năm 1980 khi các kỹ sư máy tính lập ra một chương trình vẽ được sử dụng bởi nghệ sĩ kỹ thuật số tiên phong Harold Cohen. Điều này được biết đến như là AARON – một loại máy robot được thiết kế để làm các bản vẽ lớn trên các tờ giấy đặt trên sàn nhà. Kể từ lần tấn công đầu tiên này vào trí tuệ nhân tạo, Cohen đã tiếp tục điều chỉnh chương trình AARON vì công nghệ trở nên phức tạp hơn.

Nghệ thuật kỹ thuật số có thể được máy tính tạo ra, quét hoặc rút ra bằng cách sử dụng máy tính bảng và chuột. Vào những năm 1990 nhờ cải tiến kỹ thuật số có thể tải video xuống máy tính cho phép các nghệ sỹ thao tác các hình ảnh mà họ quay bằng máy quay video. Điều này cho phép các nghệ sĩ tự do sáng tạo mà chưa từng có kinh nghiệm trước với bộ phim, cho phép họ cắt và dán trong sự di chuyển hình ảnh để tạo ra những hình ảnh cắt dán khác.

Trong thời gian gần đây, một số Digital art đã trở nên tương tác cho phép khán giả kiểm soát điều khiển được những hình ảnh cuối cùng.

NGHỆ THUẬT VIDEO (VIDEO ART)

Nghệ thuật liên quan đến việc sử dụng dữ liệu video và hoặc âm thanh dựa vào hình ảnh chuyển động.

Việc giới thiệu video vào những năm 1960 đã thay đổi hoàn toàn tiến bộ của nghệ thuật. Các khía cạnh quan trọng nhất của video là nó có được giá rẻ và đơn giản dễ làm cho phép các nghệ sĩ ghi lại tài liệu của họ và trình diễn một cách dễ dàng. Điều này đã tạo ra ít áp lực vào nghệ thuật của họ, đặt cho họ được tự do nơi bên ngoài phòng trưng bày.

Một trong những người tiên phong về nghệ thuật video là Bruce Nauman – người đã sử dụng video để khám phá các quy trình sáng tạo ẩn của nghệ sĩ bằng cách tự quay phim trong phòng thu của mình. Khi công nghệ video trở nên phức tạp hơn, nghệ thuật phát triển từ các bản ghi thời gian thực tế, sự gồ ghề biến đổi nhanh  của sắc đen và trắng cho tới ngày nay nhấn mạnh vào các sắp đặt màu lớn như các tác phẩm đa màn hình của Bill Viola. Các nghệ sĩ khác ví dụ như Gillian Wearing sử dụng một phong cách dùng tài liệu để tạo ra nghệ thuật về các khía cạnh ẩn của xã hội.

NGHỆ  THUẬT  MÔI  TRƯỜNG (ENVIRONMENTAL ART)

Nghệ

thuật môi trường là nghệ thuật giải quyết các vấn đề xã hội và chính trị liên quan đến môi trường tự nhiên và đô thị. Nghệ thuật môi trường thường có hình thức sắp đặt. Thuật ngữ này được sử dụng vào cuối những năm 1960 và thường liên quan chặt chẽ đến nghệ thuật trên đất liền .

Sự kết thúc của thế kỷ 20. Joseph Beuys

PHẢN HÌNH THỨC (ANTI-FORM)

Phản hình thức là một thuật ngữ gắn liền với một nhóm các nghệ sĩ làm việc tại Hoa Kỳ vào cuối những năm 1960 – những người nắm lấy cơ hội và các quá trình hữu cơ khác trong việc tạo tác các tác phẩm điêu khắc tối thiểu của họ.

Liên quan đến thời hậu chủ nghĩa tối giản – các nhà điêu khắc chống lại hình mẫu làm việc theo nguyên tắc hình thức nên được bắt nguồn từ những phẩm chất cố hữu của vật liệu đã chọn. Điều này khác với cách tiếp cận của các nhà điêu khắc nhỏ gọn trước đây đã áp đặt thứ tự trên vật liệu của họ và hạn chế bản thân với các hình dạng và cấu trúc hình học cố định.

Một ví dụ về Phản hình thức là tác phẩm điêu khắc “Untitled” (Chưa có tiêu đề) năm 1967 của Robert Morris – trong đó các dải treo của cảm ứng công nghiệp được phép rơi xuống mặt đất một cách tùy tiện. Bằng cách này nghệ sĩ đã phải từ bỏ sự kiểm soát của sự xuất hiện cuối cùng của tác phẩm nghệ thuật.

NGHỆ THUẬT DÒNG CHẢY (FLUXUS ART)

Fluxus art  là một tập thể tiên phong quốc tế hoặc mạng lưới các nghệ sĩ và nhà soạn nhạc được thành lập vào những năm 1960 và vẫn tiếp tục cho đến ngày nay.

Được thành lập vào năm 1960 bởi nghệ sĩ George Maciunas của Lithuania. Fluxus art bắt đầu là một mạng lưới các nghệ sĩ và nhà soạn nhạc nhỏ nhưng mang tính quốc tế được mô tả như là một thái độ chia sẻ hơn là một phong trào. Bắt nguồn từ âm nhạc thực nghiệm, nó được đặt tên theo một tạp chí có tác phẩm của các nhạc sĩ và nghệ sĩ tập trung quanh nhà soạn nhạc tiên phong John Cage .

Từ Latin, “Fluxus” có nghĩa là “Dòng chảy” trong tiếng Anh dòng chảy là một sự tuôn chảy. Người sáng lập Fluxus art là Maciunas – nói rằng mục đích của Fluxus art là “thúc đẩy một cuộc cách mạng tuôn chảy dữ dội ttrong nghệ thuật – thúc đẩy nghệ thuật đang sinh tồn và phản nghệ thuật”. Điều này có tiếng vang mạnh mẽ của dada – một phong trào nghệ thuật đầu thế kỷ thứ XX.

Beuys (Fluxus) và Christiansen (Fluxus) 1969. Joseph Beuys

Sự kiện Fluxus art đầu tiên được tổ chức vào năm 1961 tại AG Gallery ở New York và tiếp theo là các lễ hội ở Châu Âu vào năm 1962. Các trung tâm chính của hoạt động Fluxus là New York, Đức và Nhật Bản.

Fluxus art đóng một vai trò quan trọng trong việc mở ra những định nghĩa có thể được về nghệ thuật. Nó đã ảnh hưởng sâu sắc đến bản chất của việc sản xuất nghệ thuật kể từ những năm 1960 – vốn đã chứng kiến một loạt các hình thức nghệ thuật đa dạng và tiếp cận hiện tại và phát triển bên cạnh nhau.

Fluxus art không có phong cách thống nhất duy nhất. Các nghệ sỹ đã sử dụng nhiều phương tiện truyền thông và quy trình áp dụng thái độ “tự làm” cho hoạt động sáng tạo, thường xuyên biểu diễn ngẫu nhiên và sử dụng bất cứ phương tiện nào có sẵn để tạo ra nghệ thuật. Nhìn thấy mình như là một sự thay thế cho nghệ thuật, học thuật và âm nhạc. Fluxus art là một hình thức dân chủ của sự sáng tạo mở cho bất cứ ai. Sự cộng tác được khuyến khích giữa các nghệ sĩ và giữa các nghệ thuật cũng như với độc giả hoặc người xem. Nó có giá trị đơn giản và chống thương mại với sự tình cờ và ngẫu nhiên đóng một phần lớn trong việc tạo ra các tác phẩm và sự hài hước cũng là một yếu tố quan trọng.

Nhiều nghệ sĩ tiên phong quan trọng trong những năm 60 đã tham gia vào Fluxus bao gồm: Joseph Beuys, Dick Higgins, Alice Hutchins, Yoko Ono, Nam June Paik, Ben Vautier, Robert Watts, Benjamin Patterson và Emmett Williams.

NGHỆ THUẬT ÂM THANH ( SOUND ART)

Nghệ thuật âm thanh bắt nguồn từ những phát minh ban đầu của nhà ngôn ngữ học Luigi Russolo – người từ năm 1913 đến năm 1930 đã chế tạo ra những chiếc máy  gây tiếng ồn và làm lại tiếng ồn của thời đại công nghiệp và sự bùng nổ của chiến tranh. Các nghệ sĩ dada và siêu thực cũng đã thử nghiệm nghệ thuật sử dụng âm thanh. Tác phẩm Erratum Musical (Bản đính chính âm nhạc) của Marcel Duchamp gồm có ba giọng hát thu được từ một chiếc  máy nghe nhạc – một hành động dường như tùy ý có tác động đến các tác phẩm của John Cage – người mà năm 1952 đã sáng tác “4’33”– một bản nhạc dài bốn phút ba mươi ba giây im lặng (bốn phút ba mươi ba giây là 273 giây. Nhiệt độ âm 273 độ C – là tuyệt đối không).

Âm thanh của ánh sáng xanh. 2002. Gary Webb

Vào những năm 1950 và 1960 các nghệ sĩ thị giác và các nhà soạn nhạc như Bill Fontana đã sử dụng những tác phẩm điêu khắc động và phương tiện truyền thông điện tử – âm thanh được ghi trước  tồn tại chồng chéo để khám phá những không gian xung quanh.

Kể từ khi giới thiệu nghệ thuật âm thanh công nghệ kỹ thuật số đã trải qua một sự chuyển đổi triệt để. Các nghệ sỹ bây giờ có thể tạo hình ảnh trực quan để đáp ứng âm thanh cho phép khán giả kiểm soát điều khiển nghệ thuật thông qua tấm áp suất  bằng cảm biến kích hoạt giọng nói và trong các ví dụ như “Longplayer” (người rong chơi) của Jem Finer – một âm thanh được cộng hưởng để nó có thể kéo dài trong một nghìn năm.

Âm thanh là vật chất vô hình nhưng  nó là cảm xúc của tâm hồn. Nó có thể xác định một không gian cùng một lúc như nó gây nên trong ký ức.

NGHỆ THUẬT GARAFFITI (GRAFFITI ART)

Nghệ thuật graffiti là thuật ngữ dùng để chỉ các hình ảnh hoặc văn bản vẽ thường vào các tòa nhà thường sử dụng sơn phun.

Nghệ thuật graffiti có nguồn gốc từ những năm 70 của New York khi những người trẻ tuổi bắt đầu sử dụng sơn phun và các vật liệu khác để tạo ra những hình ảnh trên các tòa nhà và ở hai bên tàu điện ngầm. Hình vẽ graffiti có thể bao gồm từ các hình ảnh đồ họa sáng chói theo phong cách wildstyle (hoang dã) đến những biểu tượng cách điệu lồng vào nhau.

JEAN DUBUFFET – Hy vọng và sự lựa chọn. 1971

Graffiti như vậy là hiếm khi được nhìn thấy trong phòng trưng bày và viện bảo tàng nhưng thẩm mỹ của nó đã được kết hợp vào công việc của nghệ sĩ. Những tác phẩm nghệ thuật vẽ graffiti ban đầu bao gồm họa sĩ người Pháp Jean Dubuffet  –  những họa sĩ người New York, Jean Michel Basquiat và Keith Haring – những người có thể được định nghĩa là các nhà tiên phong về nghệ thuật đường phố. Gần đây, các nghệ sĩ graffiti như Barry McGee và Banksy đã có những tác phẩm của họ được trưng bày trong các không gian thương mại.

NGHỆ THUẬT MIỀN ĐẤT (LAND ART)

Nghệ thuật miền đất hoặc về đất đai là nghệ thuật được tạo ra trực tiếp trong các cảnh quan – tác phẩm điêu khắc đất tạo thành các công trình bằng đất hoặc làm cho cấu trúc trong cảnh quan sử dụng các vật liệu tự nhiên như đá hoặc cành cây

RICHARD LONG – Vòng tròn Sahara. 1988

Nghệ thuật miền đất là một phần của phong trào nghệ thuật khái niệm rộng lớn hơn trong những năm 1960 và 1970. Tác phẩm nghệ thuật miền đất nổi tiếng nhất là “Spiral Jetty” (Cầu tầu xoắn ốc) của Robert Smithson năm 1970 – một công trình đào bới xây dựng thành Great Salt Lake (Hồ muối vĩ đại) ở Mỹ. Mặc dù một số nghệ sĩ như Smithson đã sử dụng thiết bị di chuyển bằng máy cơ học để làm tác phẩm nghệ thuật của họ nhưng các nghệ sỹ khác đã thực hiện các biện pháp can thiệp tối thiểu và tạm thời trong phong cảnh như Richard Long – người chỉ đơn giản đi lên và xuống cho đến khi ông đã đánh dấu trên mặt đất.

Nghệ thuật miền đất – được biết đến như là nghệ thuật địa hình – thường được ghi lại trong các tác phẩm nghệ thuật sử dụng ảnh và bản đồ mà nghệ sỹ có thể trưng bày trong một phòng tranh. Các nghệ sỹ miền đất cũng đã làm nghệ thuật đất đai trong phòng tranh bằng cách đưa vật liệu vào từ thiên nhiên và sử dụng nó để tạo ra các bản sắp đặt .

Cũng như Richard Long và Robert Smithson – các nghệ sỹ đất đai chủ chốt bao gồm Walter de Maria – Michael Heizer và Dennis Oppenheim

NGHỆ  THUẬT NỮ QUYỀN ( FEMINIST ART)

Nghệ thuật Nữ quyền là nghệ thuật của các nghệ sĩ có ý thức trong ánh sáng của sự phát triển trong lý thuyết nghệ thuật nữ quyền vào đầu những năm 1970.

Năm 1971, nhà sử  học nghệ thuật  Linda Nochlin xuất bản một bài tiểu luận đột phá: “Tại sao không có nữ nghệ sĩ vĩ đại !?”. Trong đó, cô điều tra các yếu tố xã hội và kinh tế đã ngăn cản những phụ nữ tài năng đạt được tình trạng giống như nam giới.

Vào những năm 1980, các nhà sử học nghệ thuật như Griselda Pollock và Rozsika Parker đã tiến xa hơn để nghiên cứu ngôn ngữ lịch sử nghệ thuật với các thuật ngữ mang tính giới tính như “bậc thầy lớn” và “kiệt tác”. Họ đã đặt câu hỏi về vị trí trung tâm của hình ảnh người phụ nữ khỏa thân trong kinh điển phương Tây và hỏi tại sao đàn ông và phụ nữ được thể hiện một cách khác nhau. Trong cuốn sách năm 1972  “Ways of Seeing” (Cách nhìn nhận), nhà phê bình Marxist John Berger đã kết luận: “Đàn ông nhìn phụ nữ. Phụ nữ xem mình đang được nhìn vào”. Nói cách khác, nghệ thuật phương Tây tái hiện lại những mối quan hệ bất bình đẳng đã tồn tại trong xã hội.

GUERILLAGIRLS – Có phải phụ nữ khỏa thân làm việc để được tham dự Viện Bảo tàng. 1989

Trong những điều mà đôi khi được biết đến như là “First Wave” (Làn sóng Đầu tiên) của nghệ thuật nữ quyền, các nghệ sỹ nữ cảm thấy kinh nghiệm nữ tính – khám phá hình ảnh âm đạo và máu kinh nguyệt – giả vờ như nữ thần và sử dụng các phương tiện truyền thông giống như  công việc thêu thùa được coi là “công việc của phụ nữ”. Một trong những tác phẩm biểu tượng vĩ đại của giai đoạn này của nghệ thuật nữ quyền là “The Dinner Party” (Bữa tiệc tối) của Judy Chicago năm 1974.

Các nhà phê bình nữ quyền sau này đã bác bỏ cách tiếp cận này và cố gắng để lộ ra nguồn gốc của ý tưởng về nữ tính và họ theo đuổi ý tưởng về tính nữ tính như là một masquerade (dạ hội hóa trang) – một tập hợp các hành vi được phụ nữ chấp nhận để phù hợp với kỳ vọng của xã hội về nữ tính.

Guerrilla Girls là một tập thể phụ nữ – những người vẫn vô danh bằng cách mang mặt nạ khỉ đột và tự đặt tên cho mình sau những người đàn bà  nổi tiếng đã chết. Năm 1998 cuốn sách mới “Lịch sử Nghệ thuật phương Tây” của Guerrilla Girls – Người bạn đồng hành bên giường ngủ của The Guerrilla Girls đã viết:

“Chúng tôi là một nhóm phụ nữ và nghệ sĩ chuyên nghiệp chống lại  sự phân biệt đối xử. Chúng tôi là lương tâm của thế giới nghệ thuật – đối tác của hầu hết  các truyền thống nam giới của những người nổi tiếng vô danh như Robin Hood – Batman – và Lone Ranger. Chúng tôi đã sáng tạo ra hơn 80 áp phích – các tác phẩm in ấn – là những hành động  phơi  bày chủ nghĩa  phân biệt chủng tộc và sự phân biệt giới tính  trong thế giới nghệ thuật  và văn hoá nói chung… Chúng tôi  sử dụng tính hài hước để chứng minh rằng các nhà nữ quyền có thể hài hước … Chúng ta có thể là bất cứ ai –  chúng ta ở khắp nơi”.

NGH THUT T ĐNG PHÁ HỦY (AUTO-DESTRUCTIVE ART)

Nghệ thuật Tự hủy hoại là thuật ngữ do họa sĩ Gustav Metzger sáng tạo vào đầu những năm 1960 để mô tả các tác phẩm nghệ thuật cấp tiến của chính mình và những người khác trong đó sự hủy hoại là một phần của quá trình tạo ra tác phẩm.

Thuật ngữ Nghệ thuật Tự động phá hủy (Auto-Destructive) được tạo ra bởi Gustav Metzger ngay sau khi kết thúc Thế chiến II – trong thời kỳ bất ổn chính trị được gọi là Chiến tranh Lạnh. Việc phát minh ra vũ khí hạt nhân và sử dụng chúng bởi Mỹ chống lại Nhật Bản năm 1945 – đã để lại ấn tượng sâu sắc trên toàn thế giới. Trong phản ứng chống lại nhóm chống chiến tranh này – “Ủy ban của 100” (đã được Metzger tự đặt tên) được thành lập vào năm 1960 và Metzger bắt đầu vẽ những bức tranh bằng axit như một hình thức phản kháng sáng tạo.

GUSTAV METZGER – Giải trí Trưng bày Công cộng lần thứ nhất của Nghệ thuật Tự phá hủy. 1960

Metzger lần đầu tiên đề cập đến nghệ thuật Auto-destructive trong bài báo của ông “Machine, Auto-creative và Auto-destructive Art” (Máy móc – Tự động sáng tạo  và Tự động phá hủy) trong tạp chí Ark vào mùa hè năm 1962. Tuy nhiên, ông đã luyện tập hình thức này vài năm và sáng chế ra những bức tranh axit đầu tiên vào năm 1959 một phương tiện để phản đối chiến tranh hạt nhân. Các công trình này được tạo ra bằng cách phun axit lên trên tấm nylon tạo nên những hình dạng thay đổi nhanh trong tấm nylon làm cho tác phẩm tự động sáng tạo và tự hủy hoại: “Điều quan trọng là đốt một lỗ trong tờ giấy đó là nó đã mở ra một cái nhìn mới khắp Themes of St Paul’s Cathedral. (Những đề tài của Nhà thờ Thánh Paul ). Tự động phá hủy nghệ thuật không bao giờ đơn thuần là phá hoại. Phá hủy một bức tranh – bạn sáng tạo ra hình thức.” (Metzger trích dẫn của Stuart Jeffries, The Guardian, 2012).

Nghệ thuật Tự động phá hủy là vốn có về mặt chính trị; cũng mang theo những thông điệp anti-capitalist (chống chủ nghĩa tư bản) và chống lại người tiêu dùng. Nó đề cập tới niềm đam mê không lành mạnh của xã hội với sự phá hủy – cũng như tác động tiêu cực của máy móc vào sự tồn tại của chúng ta.

Năm 1966, Metzger và những người khác đã tổ chức hội nghị chuyên đề “Destruction in Art” (Sự phá hủy trong nghệ thuật) tại London. Tiếp sau đó là một hội nghị khác ở New York vào năm 1968. Hội nghị chuyên đề đã đi kèm với cuộc biểu tình nghệ thuật tự phá hủy của công chúng bao gồm việc thiêu cháy tháp Skoob của John Latham. Đây là tháp của những cuốn sách (skoob là sách đảo ngược) và ý định của Latham là để chứng minh trực tiếp quan điểm của ông rằng văn hoá phương Tây đã bị đốt cháy.

Năm 1960, họa sĩ người Thụy Sĩ Jean Tinguely đã tạo ra tác phẩm điêu khắc đầu tiên của mình là “Homage à New York” (Oh ! New York Tôn kính) – đã bị đập vỡ thành công trong “Vườn Điêu Khắc” của Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại – New York.

Vân Thuyết tổng hợp & sưu tầm

Workshop vẽ Tranh lụa cùng họa sĩ Vũ Đình Tuấn

Workshop vẽ Tranh lụa cùng họa sĩ Vũ Đình Tuấn

Tranh lụa Lụa là một loại vải mịn, mỏng được dệt bằng tơ… Do có cấu trúc dạng lăng kính, lụa phản chiếu ánh sáng chiếu vào nó với nhiều góc độ khác nhau để tạo nên vẻ óng ánh đặc trưng…Không giống như vẽ trên giấy, màu nước vẽ trên lụa thể hiện rõ ràng sự hòa quyện, mềm mại và linh hoạt. Khi vẽ lụa bằng màu nước, họa sĩ thường vẽ nhiều lớp màu chồng lên nhau. Đặc tính của lụa khiến cho kỹ thuật này trở nên vô cùng đặc biệt, màu đậm là do nhiều lớp màu nhạt tạo nên, và đây cũng là một cách phối màu độc đáo mà ở các chất liệu hội họa khác không có được.

Nội dung của buổi workshop bao gồm:

1. Nghệ sỹ giới thiệu về tranh lụa, giới thiệu những tác phẩm những tác phẩm tranh lụa nổi tiếng thế giới của họa sĩ Mai Trung Thứ, Nguyễn Phan Chánh, Lê Phổ…họa sĩ chia sẻ kinh nghiệm bản thân với tranh lụa trong nhiều năm sáng tác và thành công với Lụa.

2. Tham dự workshop các học viên sẽ được trực tiếp họa sĩ Vũ Đình Tuấn hướng dẫn kỹ thuật vẽ tranh lụa một cách bài bản từ việc căng lụa cho tới bồi lụa cuối cùng.

Thời gian: 8h – 16h Ngày: 28/11/2019 phí tham gia: 300k/hv có 2 khung lụa 30 x 40 nộp trước 23/11 . Chuyển khoản tới TK: 104000907740 vietinbank nội dung: họ tên + WSH LUA GA CS7

chú ý người tham gia sẽ chuẩn bị 2 phác thảo: 1 tĩnh vật hoa, và 1 bức chân dung.

số lượng tham gia 15 người.hotline: 0947.494.720

link đăng ký: https://docs.google.com/forms/d/1KL_84 KLsE69ZJPwemvtPP5hbZyPAvMCLVoKoR4rI4A/edit

Màu sắc cổ đại: từ tranh hang động đến Cô Gái Đeo Hoa Tai Ngọc Trai

TG. Phan Lặng Yên

Theo Nghiên cứu lịch sử

05fdafc759010b24c7a8b2dbd4179f60

Phan Lặng Yên

  • Tranh Hang Động và màu Ochre

Mục đích của những bức tranh hang động đến hiện nay vẫn không rõ ràng, tuy đây là những sáng tạo đầu tiên của con người, nhưng liệu nó mang mục đích mỹ thuật hay trang trí? Vì các hang động thường là nơi ở tạm bợ trong đời sống du cư, và tranh lại ở những vị trí khó tiếp cận. Nếu mang mục đích “hội họa/mỹ thuật” thì thứ đầu tiên được vẽ phải là con người. Nhưng không, các hình vẽ chi tiết nhất là hình bò, ngựa, động vật: các nguồn thức ăn – với mong ước săn bắt được nhiều hơn (mang màu sắc tín ngưỡng sơ khai). Đồng thời đây là một cách giao tiếp với những người đến hang sau đó: “Tôi đã từng ở đây”. Con người đôi lúc xuất hiện trên tranh, trong cảnh săn bắn, nhưng chỉ bằng vài nét đen đơn giản.

Các bức tranh này được vẽ bằng màu Ochre – kết hợp giữa loại đất/đá son (hoàng thổ) chứa sắt oxide có màu từ vàng, cam đến nâu đỏ, pha trộn với mỡ động vật – là một màu tự nhiên dễ kiếm và bền với thời gian.

altamirabison
2
3

Có một tranh hang động khá độc đáo được tạo bằng cách bôi mỡ lên tường, đặt tay lên rồi thổi bột màu.

informationtech-cavepainting.jpg

Màu này cũng được dùng phổ biến ở Ai Cập cổ đại và tranh tường La Mã

4
5

Đất son đỏ được người Phi châu dùng suốt 200,000 năm qua. Ngày nay các cô gái Himba ở Namibia vẫn dùng phương pháp ấy (trộn bột đất với mỡ động vật) rồi bôi lên người lẫn tóc sau khi bện, tạo nên màu da đỏ rực rỡ độc đáo.

  • Lapis Lazuli – màu xanh quý giá

Lapis Lazuli – một màu xanh ấn tượng nghiền từ một loại đá bán quý khai thác từ từ các mỏ quặng ở Đông Bắc Afghanistan từ thời Đồ-đá-mới, cách đây 9,000 năm. Lapis Lazuli trở thành món trao đổi đắt giá ở nền văn minh lưu vực sông Ấn, nó được tìm thấy trong hầm mộ đương thời ở Mehrgarh (Pakistan), ở Caucasus, thậm chí ở ‘tận cùng thế giới’ Mauritius (Tây Bắc châu Phi), cách mười mấy ngàn km. Sáu ngàn năm sau nó được dùng để vẽ mắt và lông mày cho mặt nạ xác ướp pharaoh Tutankhamun, tác phẩm nghệ thuật cổ đại nổi tiếng nhất.

6.jpg

Cuối trung cổ, Lapis Lazuli đến châu Âu. Vì sự quý hiếm của nó nên thời Phục Hưng, Lapis Lazuli chỉ được dùng (và thành một chỉ dấu) cho các tranh vẽ Đức mẹ.

Sassoferrato_-_Jungfrun_i_bön.jpg

Màu xanh này cũng là một trong những lý do làm nên bí ẩn của bức “Cô gái đeo hoa tai ngọc trai”, Vermeer lúc đó là hoạ sĩ nghèo với 11+4 đứa con. Một cô gái với khóe miệng cười mặc trang phục người hầu trong một bức tranh được chăm chút tỉ mỉ, thay vì các quý ông, mệnh phụ, tiểu thư thuê vẽ như lệ thường thời ấy.

866px-Girl_with_a_Pearl_Earring.jpg

Lapis Lazuli cũng được Van Gogh dùng trong Starry night, lúc này màu đã được đóng tuýp không cần phải tự mài nữa. Thời hiện đại thì có Yves Klein một thời gian dài chỉ dùng duy nhất màu này để vẽ.

8
9

Màu Egyptian-Blue

Các lăng mộ Pharaoh là nơi lưu giữ xác ướp hoàng đế với mong ước được tái sinh nên xác ướp được giữ kèm vô số vàng bạc châu báu và những đồ quý giá. Không những vậy, trên tường hầm mộ còn vẽ kèm đủ loại quan quân, cung nữ, cây trái, cao lương mỹ vị để mang theo. Các màu sắc để vẽ đều sẵn từ đất đá tự nhiên: màu Ochre, màu xanh ngọc, màu trắng đá phấn…. Nhưng có một thứ cần đem theo nhưng không tìm được màu phù hợp: sông Nile. Thời đó màu Lapis Lazuli quý giá đã được mang về từ Afghanistan nhưng lại quá hiếm và đắt đỏ để vẽ lên cả bức tường. Thế rồi sau nhiều tìm tòi, Egyptian-Blue ra đời, đây là màu nhân tạo đầu tiên được biết đến. Đến thời La Mã thì nó ít được dùng dần và đi vào quên lãng, nhưng có lẽ nó được tạo bằng đá xanh ngọc nung với cát sa mạc. Màu nhân tạo đầu tiên không chỉ có ý nghĩa với mỹ thuật mà việc biến được chất này thành chất khác là một bước tiến, một nhận thức lớn của loài người. Nó xác lập nền móng để giả kim thuật ra đời, giả kim thuật tuy ngàn năm thất bại nhưng mang lại vô số phát minh ý nghĩa cho loài người và là nền tảng cho ngành hóa học hiện đại.

11.jpg
12.jpg
  • Những màu sắc từ thời cổ đại khác

Màu đen carbon xuất hiện khi con người tìm ra lửa, rồi tìm ra cách đốt củi thành than nơi kín khí. Họa sĩ mọi thời đại luôn dùng than rồi than chì để vẽ phác trước khi vẽ nét. Chất liệu này hiện diện trong cả sơn dầu lẫn màu nước, đến cả mực in máy photocopy và máy in laser hiện tại. Trước kia, hai màu đen carbon nổi tiếng nhất là đen nho, được tạo thành khi đốt cây và cành nho, màu còn lại có được nhờ thu thập muội đèn.

Một màu đen khác xuất hiện từ thời cổ đại và được dùng đến ngày nay, màu đen-xương. Như tên gọi, nó được tạo thành bằng cách đốt xương hoặc những mẩu ngà voi bỏ đi, sắc đen nhạt hơn nhưng màu sệt hơn. Đây là màu yêu thích của danh họa Rembrandt, như trong tranh chân dung Philips Lucasz này

a.jpg

Cùng thời cổ đại, màu đỏ nâu đậm hơn ba màu Ochre vàng-cam-đỏ là màu umber,  đến từ một loại đá có oxit và hidroxit của sắt và mangan.

b.jpg

Cuối cùng, màu trắng, lime green, thời cổ thì đơn giản là một mẩu đá vôi. Sau này thì có thêm loại “Bianco san Giovanni” (tên một vị thánh tử đạo), được ngâm và thay nước 8 ngày rồi đem đi phơi nắng, tạo nên một hỗn hợp của đá vôi và Ca(OH)2.